vanban.org

Bản án 06/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 19/04/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Mai Duy H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Mai Duy H 09 (chín ) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 06/01/2018. Vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Duy H - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mai Duy H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
H. GÒ CÔNG ĐÔNG
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:06/2018/HSST
Ngày:19- 4-2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Phạm Văn Năm.

2/ Bà Huỳnh Thị Mỹ Hà.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Trường Xuân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông tham gia phiên tòa: Ông Trương Minh Kha, Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 05/2018/TL-HSST ngày 06/3/2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Mai Duy H, sinh năm 1990 tại thị xã GC, tỉnh Tiền Giang; Nơi đăng ký HKTT: số A THĐ, khu phố B, phường B, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang; Chổ ở: số A THĐ, khu phố B, phường B, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông Mai Văn P sinh năm 1958 và bà Nguyễn Ngọc H sinh năm 1958 ; Vợ, con: Chưa có.

- Tiền sự: Ngày 15/9/2017, bị Ủy ban nhân dân phường B, thị xã GC áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời hạn 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Chấp hành xong ngày 15/12/2017.

- Tiền án: Ngày 13/12/2007 bị Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 58/2007/HS-ST, đã xóa án tích.

Ngày 15/01/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày 15/01/2008 về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 01/2008-HSST, đã xóa án tích.

Ngày 08/01/2010 bị Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 01/2010/HSST, đã xóa án tích.

Ngày 26/4/2013 bị Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản bán số 14/2013/HSST, đã xóa án tích.

Ngày 18/01/2017 bị Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 03/2017/HSST. Chấp hành xong hình phạt ngày 02/7/2017, chưa xóa án tích.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/01/2018, có mặt.

Người bị hại: Nguyễn Văn T sinh năm 1980, vắng mặt.

Nơi cư trú: ấp BH, xã TĐ, huyện GCĐ,Tiền Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1958, có mặt,

Nơi cư trú: số A THĐ, khu phố B, phường B, thị xã GC, Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Mai Duy H đã có tiền án 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 03/2017/HSST ngày 18/01/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang, chấp hành xong hình phạt ngày 02/7/2017, chưa xóa án tích. Đến khoảng 00 giờ 50 phút ngày 06/01/2018, bị cáo nảy sinh ý định tìm tài sản để trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài, nên bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 65F3-5391 (xe của bà Nguyễn Ngọc H là mẹ ruột của bị cáo) mang theo một số dụng cụ gồm: Kiềm, cờ lê đi từ thị xã GC đến khu vực thuộc ấp XR, xã KP, huyện GCĐ thì phát hiện máy trộn hồ có gắn mô tưa của anh Nguyễn Văn T đang để ở bên hông nhà ông Phạm Văn M sinh năm 1963 ngụ ấp XR, xã KP, huyện GCĐ. Bị cáo lấy kiềm và cờ lê mở trộm mô tưa đem ra xe thì bị phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng. Kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐG ngày 01/02/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Gò Công Đông xác định 01 mô tưa màu đen, công suất 1,5 mã lực, không xác định được nhãn hiệu, kiểu loại trị giá 1.900.000 đồng (một triệu chím trăm ngàn đồng).

Tại bản cáo trạng số 04/CT-VKS-GCĐ ngày 05/3/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang đã truy tố bị cáo Mai Duy H về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Mai Duy H phạm tội “ Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Mai Duy H từ 09 đến 12 tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ. Về vật chứng, tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng hiện đang tạm giữ. Về trách nhiệm dân sự, không xem xét giải quyết vì người bị hại không yêu cầu.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng thống nhất nội dung quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Bị cáo khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như cáo trạng nêu là đúng. Bị cáo không nói lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Gò Công Đông, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tiến hành tố tụng, người tiến hàng tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp cáo trạng, vật chứng, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Bị cáo có tuổi đời còn trẻ, có sức lao động, là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Nhưng chỉ vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo đã lợi dụng đêm khuya, sơ hở mất cảnh giác của chủ sở hữu tài sản để lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là 01 mô tưa màu đen, công suất 1,5 mã lực, không xác định được nhãn hiệu, kiểu loại, trị giá 1.900.000 đồng của anh Nguyễn Văn T. Mặc dù giá trị tài sản bị chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng, nhưng bị cáo đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 03/2017/HSST ngày 18/01/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định: “Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;”

Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Mai Duy H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân, cụ thể trong vụ án này là tài sản của anh Nguyễn Văn T bị xâm phạm, còn ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương.

Nhân thân của bị cáo không tốt: Ngoài tiền sự như trên. Ngày 13/12/2007 bị Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 15/01/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 08/01/2010 bị Tòa án nhân dân thị xã Gò Công xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 26/4/2013 bị Tòa án nhân dân thị xã Gò Công xử phạt 02 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, đã xóa án tích. Ngày 18/01/2017 bị Tòa án nhân dân thị xã Gò Công xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa xóa án tích lại tiếp tục phạm tội lần này. Chứng tỏ bị cáo chưa cải tạo tốt, cần thiết cách ly bị cáo một thời gian để tiếp tục giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Gò Công Đông đã trao trả bà Nguyễn Ngọc H 01 xe mô tô màu đỏ, nhãn hiện Honda loại C70, biển số 65F3-5391 và trao trả ông Nguyễn Văn T 01 máy mô tưa màu đen, công suất 1.5 mã lực, không xác định được nhãn hiệu, kiểu, loại. Hiện còn đang tạm giữ: 01 cờ lê vòng miệng loại 17 màu đen, 01 chìa khóa đầu 14 và 17 màu đen, 01 cờ lê vòng đầu 13 và 12 màu đen, 01 cờ lê vòng miệng loại 13 màu đen, 01 chìa khóa đầu 10 và 12 màu trắng, 01 cờ lê vòng miệng 13 màu trắng, 01 cái kiềm dài 19 cm, cán làm bằng nhựa màu vàng đen dài 13,5 cm, lưỡi bằng kim loại màu đen dài 5,5 cm, 01 cái kéo có chiều dài 25,5 cm, cán làm bằng nhựa màu xám xanh dài 10,5 cm, lưỡi làm bằng kim loại màu đen dài 15 cm, 01 con dao thái lan dài 21 cm, cán làm bằng nhựa màu vàng có quấn băng keo màu đen dài 9,5 cm, lưỡi làm bằng kim loại màu trắng mũi nhọn dài 11,5 cm, 02 cái bao màu trắng dài 110 x 60 cm trên bao có chữ Vĩnh Hoàn (theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06 tháng 3 năm 2018)là công cụ dùng vào việc phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Mai Duy H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Mai Duy H 09 (chín ) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 06/01/2018.

Vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06 tháng 3 năm 2018.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội; Bị cáo Mai Duy H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án, hoặc niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ