vanban.org

Bản án 06/2018/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Đồ Sơn, TP. Hải Phòng Tuyên án 24/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Ngọc T phạm tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổ…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN ĐỒ SƠN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2018/HS-ST
Ngày 24-5-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ Thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tùng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hoàng Thị Yến

Ông Nguyễn Khắc Quyết

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Văn Hoàng - Thư ký Toà án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Vũ Duy Ninh - Kiểm sát viên.

Ngày 24-5-2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2018/TLST-HS ngày 26-4-2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2018/QĐXXST-HS ngày 09-5-2018 đối với bị cáo:

Đoàn Ngọc T, sinh ngày 08-8-1994 tại Quảng Ninh. Nơi cư trú: Khu 8, phường Y, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Đoàn Thị L; có vợ là Nguyễn Thị Huyền Tr; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 23-11-2017 đến ngày 29-11-2017 chuyển tạm giam; có mặt.

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1994; nơi cư trú: Bản N, xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An; có mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Văn T; vắng mặt.

2. Anh Bùi Thế Đ; vắng mặt.

3. Anh Nguyễn Lê H; vắng mặt.

4. Ông Nguyễn Văn C; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đoàn Ngọc T gây thương tích cho chị Nguyễn Thị Th xuất phát từ nguyên nhân mâu thuẫn trong chuyện tình cảm và do ngày 27-7-2017 T và chị Th đi xét nghiệm kiểm tra sức khỏe, đến ngày 31-7-2017 khi T lấy kết quả xét nghiệm thì phát hiện Th bị nhiễm HIV. T không bị nhiễm HIV nhưng T được bác sĩ tư vấn, T là người có nguy cơ cao bị nhiễm HIV do trong thời gian chung sống với Th đã nhiều lần quan hệ tình dục không sử dụng các biện pháp phòng tránh và khuyên T sau ba tháng nên đi xét nghiệm lại. T nghĩ chị Th đã biết mình bị nhiễm HIV nhưng trong thời gian chung sống với T không sử dụng các biện pháp phòng tránh, cố ý lây truyền HIV cho T. Do bị sốc tâm lý nên T đã chuẩn bị dao nhằm rạch mặt chị Th không thể lây truyền HIV cho người khác, cụ thể:

Khoảng 00 giờ 50 phút ngày 01-8-2017, T và chị Th thuê xe taxi từ khu vực đường Lạch Tray, Hải Phòng xuống Đồ Sơn để thuê nhà nghỉ (T và Th đã chung sống với nhau như vợ chồng từ khoảng tháng 02 đến tháng 7-2017 tại Hà Nội).

Đến khoảng 01 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến đoạn lối rẽ vào đường 14 cũ, đoạn trước Công ty TNHH Sáng Hưởng (Tổ 8, Ngọc Xuyên, Đồ Sơn), T yêu cầu xuống xe và nói với Th đi vào bên trong để thuê nhà nghỉ. Khi hai người đi được khoảng 300 mét, Th đi trước, tay cầm túi xách và đeo túi da, T đi sau cách khoảng 03-04 mét, T dùng tay phải lấy 01 con dao cạo râu đã chuẩn bị sẵn (loại dao gấp dài khoảng 20 cm, rộng khoảng 02 cm, phần đầu dao bằng sắt màu trắng, dài khoảng 10 cm, có rãnh gắn 1/2 lưỡi dao lam, phần tay cầm màu nâu, dài khoảng 10 cm) trong túi quần bên phải của T đi nhanh đến phía sau lưng Th. Ngay lúc đó Th quay mặt lại thì T giơ dao cạo râu rạch một nhát vào vùng má bên phải của Th theo chiều từ trên xuống dưới, một nhát ngang mặt Th theo chiều từ phải sang trái, Th giơ hai tay lên che mặt thì bị thương tích ở bàn tay phải và ngón tay I bàn tay trái đồng thời đánh rơi túi xách và túi da. Th bỏ lại đôi giầy đang đi rồi chạy ngược lại về phía Công ty TNHH Sáng Hưởng được khoảng 03 mét thì bị T đuổi theo dùng tay trái túm vào tay phải của Th, tay phải T cầm dao giơ lên ngang mặt Th rạch hai nhát liên tiếp vào vùng trán của Th theo chiều từ dưới lên trên, từ phải sang trái, tiếp tục rạch một nhát vào vùng môi bên phải của Th theo chiều từ trên xuống dưới, một nhát vào vùng cằm của Th theo chiều từ phải sang trái. Th bỏ chạy ra phía đường 353 vừa chạy vừa kêu cứu thì lúc đó anh Nguyễn Lê H điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 15A-308.33 đi qua phát hiện đưa Th đến trình báo tại Đội Cảnh sát giao thông số 2- Phòng Cảnh sát giao thông - Công an thành phố Hải Phòng rồi đến cấp cứu tại bệnh viện Việt Tiệp, Hải Phòng.

Đoàn Ngọc T, sau khi gây thương tích cho chị Th đi bộ đến khu vực ngã ba Quán Ngọc, phường Ngọc Xuyên, Đồ Sơn đi xe taxi của hãng Đất Cảng do anh Bùi Thế Đ điều khiển đến khu vực Quán Nam, Lê Chân sau đó T bỏ trốn lên Hà Nội.

Ngày 23-11-2017, T đến Công an quận Đồ Sơn đầu thú, khai nhận hành vi của mình như trên.

Vật chứng của vụ án:

Một đôi giầy nữ màu đen; một quần bò màu xanh; một quần soóc bò màu đen; một áo phông ngắn tay màu đen; một túi xách bằng giấy nhựa màu nâu; một túi xách bằng da màu đen; một chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Thị Th; một thẻ ATM ngân hàng VP Bank mang tên Nguyễn Thị Th; một thẻ ATM ngân hàng AGRIBANK mang tên Nguyễn Thị Th; một điện thoại di động SAMSUNG-GTE1 là tài sản của chị Nguyễn Thị Th đánh rơi tại hiện trường đã được Cơ quan điều tra trả lại cho chị Th;

01 bộ quần áo T mặc khi gây thương tích cho chị Th do T tự nguyện giao nộp gồm: 01 chiếc quần bò màu xanh, có logo ghi dòng chữ DOLCE-GABBANA; 01 chiếc áo sơ mi dài tay nhiều màu sắc, có logo ghi dòng chữ ZARA MAN.

Con dao cạo râu T sử dụng để gây thương tích cho chị Th, T khai nhận đã vứt đi, không rõ địa điểm nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.

Tại Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 402/2017/TgT ngày 07-8-2017 của Trung tâm pháp y Hải Phòng kết luận chị Nguyễn Thị Th bị các thương tích: Vết thương vùng trán cung mày phải dài 09 cm, chưa cắt chỉ, còn sưng nề; Vết thương vùng trán trái dài 03 cm, chưa cắt chỉ, còn sưng nề; Vết thương dọc má cằm phải dài 12 cm, chưa cắt chỉ, còn sưng nề; Vết thương ngang má trái-tháp mũi dài 10 cm chưa cắt chỉ, còn sưng nề; Vết thương cằm trái dài 05 cm, chưa cắt chỉ còn sưng nề; Vết thương dưới cằm dài 02 cm, chưa cắt chỉ, còn sưng nề; Vết thương mặt mu bàn tay phải gốc đốt IV dài 02 cm, chưa cắt chỉ, còn sưng nề; Vết thương mặt mu bàn tay phải đốt 1 ngón V dài 01 cm, chưa cắt chỉ, còn sưng nề; Vết thương mặt mu đốt 1 ngón I bàn tay trái dài 2,5 cm, chưa cắt chỉ, còn sưng nề. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân do thương tích trên gây nên là 43%. Thương tích trên có đặc điểm do vật sắc tác động trực tiếp gây nên.

Bản cáo trạng số 06/CT-VKS ngày 26-4-2018 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn đã truy tố các bị cáo Đoàn Ngọc T về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên toà, bị cáo T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn đã truy tố. Bị cáo thừa nhận đã gây thương tích cho chị Th đúng như Bản kết luận giám định pháp y về thương tích của Trung tâm pháp y Hải Phòng, vật chứng của vụ án bị Cơ quan điều tra thu giữ đúng như cáo trạng đã nêu. Bị cáo thừa nhận việc bị điều tra, truy tố, xét xử là không sai, không bị ép buộc khai báo không đúng sự thật.

Bị hại là chị Th trình bày xuất phát từ mâu thuẫn tình cảm, và từ nguyên nhân bị cáo sốc tâm lý khi nhận kết quả xét nghiệm HIV nên suy nghĩ nông nổi nhất thời gây thương tích cho chị. Thực tế giữa bị cáo và chị vẫn còn tình cảm với nhau thể hiện qua việc sau khi phạm tội, trong thời gian bị cáo bỏ trốn giữa chị và bị cáo thường xuyên liên lạc với nhau qua điện thoại và facebook. Việc bồi thường đã xong, chị không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm và đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Xuất phát từ mâu thuẫn tình cảm trước đó và từ nguyên nhân bị cáo T cho rằng chị Th đã biết mình bị nhiễm HIV nhưng trong thời gian chung sống với bị cáo không sử dụng các biện pháp phòng tránh, cố ý lây truyền HIV cho T nên bị cáo đã có hành vi dùng dao cạo râu rạch nhiều nhát vào vùng mặt và tay gây thương tích cho bị hại với mức độ tổn thương sức khỏe là 43% với mục đích cho bõ ghét và để chị Th không thể lây truyền HIV cho người khác. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại và người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo đầu thú là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật.

Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c, khoản 3 Điều 134 (điểm a khoản 1 Điều 134); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đoàn Ngọc T từ 48 tháng đến 54 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích. Bị hại đã được bồi thường, không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị không xem xét.

Về xử lý vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy vật chứng của vụ án gồm: 01 chiếc quần bò màu xanh, có logo ghi dòng chữ DOLCE-GABBANA; 01 chiếc áo sơ mi dài tay nhiều màu sắc, có logo ghi dòng chữ ZARA MAN (là quần áo T mặc khi gây thương tích cho chị Th).

Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo biết hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật, rất ăn năn hối hận và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại đồng ý với luận tội của Kiểm sát viên và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và Điều tra viên Công an quận Đồ Sơn; Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và những người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh và về tình tiết định khung hình phạt:

Lời khai của bị cáo Đoàn Ngọc T tại phiên toà phù hợp các tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án. Được chứng minh bằng lời khai của bị hại, những người làm chứng; biên bản khám nghiệm hiện trường, vâ ̣t chứ ng đa thu giữ

̃, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã làm rõ: Do mâu thuẫn từ trước và xuất phát từ nguyên nhân bị cáo cho rằng chị Nguyễn Thị Th đã biết mình bị nhiễm HIV nhưng trong thời gian chung sống với bị cáo không sử dụng các biện pháp phòng tránh, cố ý lây truyền HIV cho bị cáo nên khoảng 01 giờ 30 phút ngày 01-8-2017, tại lối rẽ vào đường 14 cũ, đoạn trước cửa Công ty TNHH Sáng Hưởng thuộc tổ 8, phường Ngọc Xuyên, quận Đồ Sơn, T đã có hành vi dùng dao cạo râu rạch nhiều nhát vào vùng mặt và tay gây thương tích cho bị hại với mức độ tổn thương sức khỏe (theo Bản kết luận giám định pháp y về thương tích của Trung tâm pháp y Hải Phòng) là 43%.

Bị cáo T là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật, song bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Mặc dù vật chứng là con dao cạo râu bị cáo sử dụng gây thương tích cho chị Th, Cơ quan Điều tra không thu hồi được nhưng căn cứ vào lời khai của bị cáo, bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án khẳng định: Vật bị cáo sử dụng để gây thương tích cho chị Th là dao cạo râu (loại dao gấp dài khoảng 20 cm, rộng khoảng 02 cm, có rãnh gắn ½ lưỡi dao lam, phần tay cầm màu nâu dài khoảng 10 cm). Theo hướng dẫn tại tiểu mục 2.2 mục 2 phần I Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17-4-2003 và tiểu mục 3.1 mục 1 Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12-5-2006 của Hội đồng Th phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự thì dao cạo râu mà bị cáo dùng để gây thương tích cho bị hại được coi là hung khí nguy hiểm được quy định theo điểm a khoản 1 Điều 104 của Bộ luật Hình sự.

Vì vậy, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận, hành vi của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 3 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999. Tuy nhiên, tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 có hình phạt nhẹ hơn khoản 3 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999 nên cần áp dụng Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự và khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xem xét có lợi cho bị cáo như cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, không chỉ xâm phạm đến sức khỏe của công dân mà còn xâm hại đến trật tự an toàn xã hội. Bị hại là phụ nữ, người yêu từng chung sống như vợ chồng với bị cáo, vùng bị thương tích là vùng mặt nên ảnh hướng lớn về thẩm mỹ. Do đó phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn và tiếp tục cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng, bị hại không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hành vi gây thương tích cho bị hại là nhất thời bộc phát vì bị cáo cho rằng bị hại cố tình lây truyền HIV cho mình. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, nhân thân không có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị hại và Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với bị cáo là có căn cứ cần chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được bồi thường và không có yêu cầu nào khác. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về việc bồi thường thiệt hại.

- Về xử lý vật chứng:

01 đôi giầy nữ màu đen; một quần bò màu xanh; một quần soóc bò màu đen; một áo phông ngắn tay màu đen; một túi xách bằng giấy nhựa màu nâu; một túi xách bằng da màu đen; một chứng minh nhân dân; một thẻ ATM ngân hàng VP Bank; một thẻ ATM ngân hàng AGRIBANK; một điện thoại di động SAMSUNG-GTE1: Đã trả lại cho chủ sở hữu là chị Th;

01 dao cạo râu T sử dụng để gây thương tích cho chị Th, T khai nhận đã vứt đi, không rõ địa điểm nên Cơ quan Điều tra không thu hồi được.

01 chiếc quần bò màu xanh, có logo ghi dòng chữ DOLCE-GABBANA; 01 chiếc áo sơ mi dài tay nhiều màu sắc, có logo ghi dòng chữ ZARA MAN là của bị cáo mặc khi gây thương tích cho chị Th, bị cáo xác định không còn giá trị sử dụng và không nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về vấn đề khác: Quá trình điều tra, không đủ căn cứ cho rằng trong thời gian chung sống với T, chị Th đã biết mình bị nhiễm HIV và cố ý truyền bệnh cho T, hiện T không bị nhiễm HIV nên không khởi tố đối với Nguyễn Thị Th về tội Lây truyền HIV cho người khác theo Điều 117 Bộ luật Hình sự năm 1999 là đúng.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Đoàn Ngọc T 48 (bốn mươi tám) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày tạm giữ 23-11-2017.

Căn cứ vào điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy vật chứng của vụ án gồm: 01 chiếc quần bò màu xanh, có logo ghi dòng chữ DOLCE-GABBANA; 01 chiếc áo sơ mi dài tay nhiều màu sắc, có logo ghi dòng chữ ZARA MAN (Theo biên bản bàn giao đồ vật, tài sản bị tạm giữ ngày 07/5/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo T, bị hại Nguyễn Thị Th có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ