- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lù K cùng đồng bọn cướp tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1 Tuyên bố bị cáo Lù K phạm tội “cướp tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG KHƯƠNG TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2018/HS-ST Ngày 22-6-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYÊN MƯỜNG KHƯƠNG, TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Hải Quân.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lồ Củi Thủy.
Ông Sùng Seo Chử.
-Thư ký phiên tòa: Ông Giàng Mạnh Vàng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Ngô Anh Chiến - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2018/HSST, ngày 23 tháng 05 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2018/QĐXX - HS, ngày 11/6/2018 đối với các bị cáo:
1.Lù K , sinh ngày 10/8/ 1994 tại huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú tại: Thôn P, xã T, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai; Chỗ ở hiện nay: thôn P, xã T, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; con ông Lù H sinh năm 1952 ( Đã chết) và bà Hàng T sinh năm 1964. Hiện bà T đang cư trú tại Thôn P, xã T, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Bị cáo chưa có vợ.
Tiền án : Không;
Tiền sự: 01 tiền sự, ngày 10/10/2017, bị Công an xã T, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 22/01/2018 và tạm giam ngày 31/01/2018. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai - có mặt tại phiên tòa.
2. Sùng Seo C , sinh năm 1998 tại huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú tại: Thôn Đ, xã B, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai; Chỗ ở hiện nay: thôn Đ, xã B, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: Lớp 02/12; Dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; con ông Sùng Seo D sinh năm 1966 và bà Ly Thị M sinh năm 1974 (bỏ đi khỏi địa phương năm 2008). Hiện ông D cư trú tại thôn Đ, xã B, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Bị cáo chưa có vợ.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 21/01/2018 và tạm giam ngày 31/01/2018. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai - có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: 1. Lù Thị P; Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn Mường Khương, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt
2. Giàng Thị C; Địa chỉ: thôn T, xã B, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
Người làm chứng:
1. Chị Hàng T; Địa chỉ: thôn P, xã T, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
2.Anh Vương T; Địa chỉ: thôn T, thị trấn Mường Khương, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
3. Chị Vàng T; Địa chỉ: thôn C, huyện Si Ma Cai, tỉnh lào Cai. Vắng mặt.
4. Anh Sùng Seo D; Địa chỉ: thôn Đ, xã B, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 20/01/2018, Lù K (sinh ngày10/8/1994, trú tại thôn P, xã T, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai) cùng Sùng Seo C (sinh năm 1998, trú tại thôn Đ, xã B, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai) đi xe máy BKS 24P1 – 0334 (xe của Lù K) đến chợ Km 15 thuộc xã B, huyện Mường Khương chơi. Tại đây C nói với K là không có tiền tiêu, K rủ C đi cướp tiền của chị Lù Thị P sinh năm 1982, trú tại tổ dân phố T, thị trấn Mường Khương, huyện Mường Khương, vì K biết chị P hay mua ngô, gà của nhà K và có nhiều tiền, C đồng ý. Cả hai bàn bạc phải đi trộm cắp gà rồi lừa chị P đến mua gà mới cướp được tiền. K và C đem giấu xe máy ở ven đường Quốc lộ (cách chợ Km15 B khoảng 300 mét, thuộc thôn Na Hạ 1, xã Lùng Vai, huyện Mường Khương), đêm hôm đó, K và C ngủ lại ven đường cách chỗ để xe 100 mét để đợi trời sáng đi trộm cắp gà. Đến khoảng 2 giờ sáng ngày hôm sau, K và C đến khu vực nhà chị Giàng Thị C ở thôn T, xã B, huyện Mường Khương trộm cắp được 04 con gà, K và C cho 04 con gà vào bao tải rồi mang về chỗ ngủ để. Đến khoảng 4 gờ sáng cùng ngày, K dùng điện thoại di động gọi điện cho chị P hẹn xuống mua gà. Khoảng 30 phút sau, chị P mang theo một chiếc túi vải bên trong có 02 buộc tiền (tổng số tiền chị P mang theo là 12.500.000 đồng), 01 chùm chìa khóa và một quyển sổ ghi chép cùng chồng là anh Vương T đi đến nơi K hẹn để mua gà. Khi thấy chị P đi cùng chồng, K nói dối với vợ chồng chị P là có người bạn đang ở Chợ Chậu, xã Lùng Vai cũng có gà để bán nhưng không có xe đi lên, nhờ anh  xuống đón. Khi anh  đi khuất, chị P vào vệ đường, K đi đến phía sau lưng chị P dùng tay trái khóa cổ chị P, tay phải giữ chán chị P vật ngửa ra sau, K tiếp tục dùng tay phải giật chiếc túi chị P đang đeo trên người, chị P chống cự, hai tay giữ chặt chiếc túi. Do chưa lấy được túi K gọi C đến hỗ trợ, C dùng tay gỡ chiếc túi đang đeo trên người chị P ra, lúc này C thấy điện thoại của chị P rơi ra nền đất, C cầm ném xuống nương ngô gần đó. Sau khi cướp được chiếc túi, C đưa cho K cầm, còn mình điều khiển xe máy chở K đi theo hướng ra Lào Cai. Trên đường đi, K mở túi ra kiểm tra thấy trong túi có hai bọc tiền, 01 chùm chìa khóa, 01 quyển sổ, K và C vứt chùm chìa khóa và quyển sổ dọc đường, còn chiếc túi, K đưa cho C đeo. Khi đi đến Km 4 thuộc tổ 10, phường Lào Cai, thành phố Lào Cai, thì xe máy do C điều khiển va chạm với xe máy do một người phụ nữ (không biết tên, tuổi, địa chỉ) điều khiển đi cùng chiều, K và C bị ngã xuống đường, chiếc túi văng xuống đất bị rách, tiền rơi ra ngoài, K chỉ nhặt được một buộc tiền (khoảng 7.000.000 đồng), K bồi thường cho người phụ nữ vừa va chạm xe với mình 2.700.000 đồng, đưa cho C khoảng 300.000 đồng, còn chiếc túi sau khi kiểm tra thấy không còn tiền, K vứt lại cạnh đường. Sau đó cả hai đi sửa xe máy hết 800.000 đồng.
Ngày 21/01/2018, Sùng Seo C bị Công an huyện Mường Khương bắt giữ tại nhà, ngày 22/01/2018, Lù K cũng bị Công an huyện Mường Khương bắt giữ khi đang đi cùng bạn gái là Vàng T tại khu vực xã Bảo Nhai, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. Tại Cơ quan điều tra, Lù K và Sùng Seo C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 04/TBKL - HĐĐG ngày 26/01/2018 của Hội đồng định giá tài sản huyện Mường Khương kết luận: 01 chiếc túi vải màu vàng nhạt, có quai đeo bằng vải có kích thước 25 x15 x 10 cm có giá trị còn lại là 15.000.000 đồng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 05/TBKL – HĐĐG ngày 29/01/2018, của Hội đồng định giá tài sản huyện Mường Khương kết luận: Giá trị còn lại của 04 con gà tính đến thời điểm ngày 21/01/2018 là 1.274.000 đồng.
Bản Cáo trạng số 06/CT -VKS ngày 22 tháng 5 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai truy tố các bị cáo Lù K và Sùng Seo C về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 của Bộ luật Hình sự. Lù K bị truy tố về tội: “ Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào cai giữ nguyên cáo trạng truy tố các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lù K phạm tội: “ Cướp tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”.
Tuyên bố Sùng Seo C phạm tội: “Cướp tài sản”
- Áp dụng khoản 1 điều 168; điểm a Khoản 1 điều 173; điều 17; điều 58 điểm b,h,s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuyên phạt bị cáo Lù K từ 04 (bốn) năm đến 04 (bốn ) năm sáu (sáu) tháng tù về tội “ Cướp tài sản” và tuyên phạt bị cáo Lù K từ 09 (Chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản” và áp dụng điều 55 tổng hợp chung cho cả hai tội đối với bị cáo.
- Áp dụng khoản 1 điều 168; điều 17;điều 58; điểm b,s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuyên phạt bị cáo Sùng Seo C từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo khoản 6 điều 168 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo. xét các bị cáo không có tài sản riêng và thu nhập ổn định nên không phạt tiền các bị cáo. Đối với Lù K không có tài sản riêng và thu nhập ổn định nên không phạt tiền theo quy định tại khoản 5 điều 173 của Bộ luật hình sự.
- Về xử lý vật chứng:
Đối với chiếc túi vải vàng nhạt, 01 chùm chìa khóa và số tiền 3.000.000 đồng thu giữ của Lù K đã trả lại cho chị Lù Thị P nên không xem xét giải quyết.
Đối với 04 con gà còn sống (Có 03 con gà mái, 01 con gà trống có tổng trọng lượng là 9,1 kg) đã trả cho chị Giàng Thị C nên không xem xét giải quyết.
Đối với 01 chiếc xe máy hiệu Hao Jue (do Trung Quốc sản xuất), 01 biển kiểm soát 24 P1 – 0334 số khung 008275, số máy LK 152 FH008275 (đã qua sử dụng) đó là phương tiện phạm tội. Chiếc xe máy là của Lù K nên cần tịch thu xung công quỹ nhà nước.
Đối với 01 khẩu trang vải của Lù K không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mobell màu vàng đó là phương tiện liên lạc của Lù K trao đổi lừa chị Lù Thị P về việc mua bán gà để cướp tiền của chị vì vậy cần tịch thu sung công quỹ nhà nước. Nên áp dụng điểm a, b,c khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự để giải quyết.
- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 135 của Bộ luật hình sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, tuyên án phí đối với các bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo Lù K và Sùng Seo C với các lý do như sau: các Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu vùng xa sự nhận thức về pháp luật của bị cáo còn nhiều hạn chế, Bị cáo Lù K sau khi phạm tội bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả. Nên đề nghị hội đồng xét xử Áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm b,s khoản 1, Điều 51, Điều 17, 58 Bộ Luật hình sự đề nghị tuyên phạt Lù K với mức án 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Đối với tội “trộm cắp tài sản” bị cáo Lù K sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn. Nên đề nghị Hội đồng xét xử Áp dụng điểm a khoản 1 điiều 173; điểm h,s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự tuyên phạt bị cáo Lù K 06 (sáu) tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản” và áp dụng điều 55 tổng hợp chung cho cả hai tội đối với bị cáo.
Đối với bị cáo Sùng Seo C, sau khi phạm tội, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, sau khi phạm tội đã tác động gia đình và gia đình bị cáo đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả. Nên đề nghị Áp dụng khoản 1 điều 168; điểm b,s khoản 1 Điều 51; Điều 170; Điều 58của Bộ luật hình sự. cho bị cáo Sùng Seo C hưởng mức án là 03 (ba) năm tù.
Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án các bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo Lù K đã nhận thức được hành vi của bị cáo “Cướp tài sản” và tội “ Trộm cắp tài sản” là vi phạm pháp luật hình sự, nhưng quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo Sùng Seo C đã nhận thức được hành vi của bị cáo “Cướp tài sản” là vi phạm pháp luật hình sự, nhưng quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về thủ tục tố tụng : Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Khương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Khương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
.Về thẩm quyền: Tội phạm xảy ra và bị phát hiện tại huyện Mường Khương do đó vụ án thuộc thẩm quyền tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng huyện Mường Khương, tỉnh lào Cai.
. Về luật áp dụng: Hành vi phạm tội của các bị cáo thực hiện ngày 20/01/2018 ( Ngày Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 có hiệu lực pháp luật) do đó luật áp dụng là Bộ Luật hình sự năm 2015.
. Về nội dung vụ án: Qua lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua kết quả tranh luận tại phiên tòa, từ đó đủ cơ sở xác định:
Ngày 20/01/2018, Lù K đã cùng Sùng Seo C thực hiện hành vi cướp tài sản của chị Lù Thị P với số tiền là 12.515.000 đồng (mười hai triệu năm trăm mười năm ngàn đồng) mục đích để tiêu sài cá nhân. Đối với Lù K có 01 tiền sự vào ngày 01/10/2017 bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích, nhưng thực hiện hành vi tiếp theo đã bàn bạc với Sùng Seo C trộm cắp 04 con gà của chị Giàng Thị C với tổng giá trị trộm cắp là 1.274.000 đồng.
Như vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai truy tố các bị cáo Lù K và Sùng Seo C ra trước Tòa án nhân dân huyện Mường Khương để xét xử về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở đúng theo quy định của pháp luật. Các bị cáo đều có khả năng nhận thức và hiểu biết pháp luật, nhưng với mục đích cướp tiền để tiêu sài cá nhân, các bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân. Hành vi của các bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “ Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 của Bộ luật Hình sự. Đối với Lù K đã có tiền sự và bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản nhưng vẫn tiếp tục phạm tội “trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm a khoản 1 điều 173 của Bộ luật hình sự.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của người bị hại và những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ căn cứ để kết luận các bị cáo Lù K, Sùng Seo C phạm tội “Cướp tài sản”.Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 168 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Lù K phạm tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm a khoản 1 điều 173 của Bộ luật hình sự.
Cáo trạng số 06/CT - VKS ngày 22/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai truy tố các bị cáo Lù K, Sùng Seo C về tội danh và điều luật như viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tính chất nguy hiểm của hành vi: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, gây mất trật tự trị an xã hội ở xã B nói riêng và Toàn huyện Mường Khương nói chung. Vì vậy, cần xử lý các bị cáo thật nghiêm khắc để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Đây là vụ án có đồng phạm nhưng thuộc trường hợp giản đơn. Để lên một mức án thật nghiêm khắc và tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của từng bị cáo thì cần phải đánh giá vai trò của các bị cáo trong vụ án như sau:
Đối với bị cáo Lù K là người khởi xướng, rủ rê Sùng Seo C phạm tội và trực tiếp thực hiện hành vi dùng tay khóa cổ chị Phán và quàng tay qua trán chị Phán vật ngửa ra đằng sau để gọi Sùng Seo C hỗ chợ lấy túi tiền của chị P.Vì vậy, bị cáo Lù K phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án. Ngoài ra Lù K có một tiền sự đã bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản nhưng bị cáo lại trộm cắp 04 con gà của chị Giàng Thị C. Nên bị cáo Lù K phải chịu trách nhiệm đối với hành vi phạm tội của mình.
Đối với bị cáo Sùng Seo C khi được rủ cướp tài sản thì tích cực tham gia thực hiện hành vi và giúp sức lấy túi tiền trên người bị hại Lù Thị P.Vì vậy, bị cáo Sùng Seo C phải chịu trách nhiệm đồng phạm với vai trò là người giúp sức và phải chịu trách nhiệm thứ hai trong vụ án, sau Lù K.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo Lù K, Sùng Seo C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo Lù K là người dân tộc thiểu số, chưa có tiền án nhưng có 01 tiền sự ngày 01/10/2017 bị Công an xã T, huyện Mường Khương xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, Đối với tội “ Cướp tài sản” bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo Lù K đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho người bị hại. Vì vậy nên áp dụng điểm b,s khoản 1 điều 51; điều 17; điều 58 Bộ luật hình sự. Đối với tội “ Trộm cắp tài sản” bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Vì vậy nên áp dụng điểm h,s khoản 1 điều 51của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Cần áp dụng điều 55 tổng hợp chung cho cả hai tội đối với bị cáo.
Bị cáo Sùng Seo C là người dân tộc thiểu số, chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo Sùng Seo C đã tác động gia đình bồi thường. Vì vậy nên áp dụng điểm b,s khoản 1 điều 51; điều 17; điều 58 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Đối với Sùng Seo C do hành vi trộm cắp tài sản là 04 con gà (có giá trị 1.274.000đ) chưa đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự, nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt hành chính 1.000.000đ về hành vi này là phù hợp.
Trong vụ án này còn có Thào D là người mà Lù K đã đưa 3.000.000đ để D cầm hộ, nhưng D không biết là tiền phạm tội mà có. Lù Thị P và Vương T là người đã mua gà của K và C, nhưng khi mua bán không biết đó là gà do phạm tội mà có, nên cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản và tiền bồi thường bị hại Lù Thị P không yêu cầu bồi thường gì thêm. Chị Giàng Thị C sau khi nhận lại 04 con gà không yêu cầu bồi thường gì.
.Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có việc làm và thu nhập ổn định, các bị cáo không có tài sản riêng, nên việc áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, theo khoản 6 điều 168 là không cần thiết , nên không áp dụng. Đối với Lù K không áp dụng khoản 5 điều 173 Bộ luật hình sự là không cần thiết, nên không áp dụng.
.Về vật chứng: Đối với chiếc túi vải vàng nhạt, 01 chùm chìa khóa và số tiền 3.000.000 đồng thu giữ của Lù K đã trả lại cho chị Lù Thị P nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với 04 con gà còn sống (Có 03 con gà mái, 01 con gà trống có tổng trọng lượng là 9,1 kg) đã trả cho chị Giàng Thị C nên hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với 01 chiếc xe máy hiệu HaoJue (do Trung Quốc sản xuất), 01 biển kiểm soát 24 P1 – 0334 số khung 0004844, số máy 036259 (đã qua sử dụng) đó là phương tiện phạm tội. Chiếc xe máy là của Lù K nên cần tịch thu xung công quỹ nhà nước.
Đối với 01 khẩu trang vải của Lù K không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mobell màu vàng đó là phương tiện liên lạc của Lù K trao đổi lừa chị Lù Thị P về việc mua bán gà để cướp tiền của chị vì vậy cần tịch thu sung công quỹ nhà nước. Nên căn cứ điểm a khoản 1 điều 47 của bộ luật hình sự; điểm a, b,c khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự để giải quyết.
.Về án phí: : Các bị cáo Lù K, Sùng Seo C phải chịu án phí theo khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Căn cứ vào khoản 1 điều 168; điểm a khoản 1 Điều 173; điều 17; điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015.
1.1 Tuyên bố bị cáo Lù K phạm tội “cướp tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”.
-Tuyên bố bị cáo Sùng Seo C phạm tội “Cướp tài sản”
1.2 Căn cứ khoản 1 điều 168, điều 17; điều 58; điểm b,s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt Lù K 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Căn cứ điểm a khoản 1 điều 173 điểm h,s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt Lù K 06 (sáu) tháng tù.
- Căn cứ điểm a khoản 1 điều 55 của Bộ Luật hình sự, Buộc bị cáo Lù K phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 22/01/2018.
1.3 Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điều 17; điều 58; điểm b,s khoản 1 điều 51của Bộ luật hình sự. Xử phạt Sùng Seo C 03 (ba) năm tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 21/01/2018.
2.Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 điều 47 của Bộ luật hình sự điểm a,b,c khoản 2 Điều 106 Bộ tố tụng hình sự.
2.1 Tịch thu tiêu hủy 01khẩu trang vải (đã cũ).
2.2 Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 chiếc xe máy hiệu 01 chiếc xe máy hiệu Hao Jue (do Trung Quốc sản xuất) màu vàng cam, gắn biển kiểm soát 24 P1 – 0334 số khung 0004844, số máy 036259 (đã qua sử dụng) đó là phương tiện phạm tội. Chiếc xe máy là của Lù K nên cần tịch thu xung công quỹ nhà nước.chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mobell màu vàng đó là phương tiện liên lạc của Lù K trao đổi với chị Lù Thị P về việc mua bán gà để cướp tiền của chị vì vậy cần tịch thu sung công quỹ nhà nước. Những vật chứng trên đã được bàn giao theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai với Chi cục thi hành án huyện Mường Khương, tỉnh Lào cai ngày 22/05/2018.
3.Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH quy định về án phí lệ phí Tòa án các bị cáo Lù K , Sùng Seo C phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại Lù Thị P, Giàng Thị C Vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
“ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TANDT Lào Cai; - VKSND huyện Mường Khương; - VKSND tỉnh Lào Cai; - Công an huyện Mường Khương (2); - Chi cục T.H.A dân sự huyện MK; - Sở tư pháp; - Bị cáo; - Lưu: HS; THS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Hải Quân |