vanban.org

Bản án 06/2018/HNGDST — Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 2 Điều 56; Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 2 Điều 68 - BLDS; Khoản 4 Điều 147- BLTTDS năm 2015; Điểm a, khoản 1 Điều 24, điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH khóa 14, ngày 30/12/2016, quy định về án phí và lệ phí Tòa án; Xử:

Về hôn nhân: Anh Lê Xuân L được ly hôn chị Dương Thị Th. Về con cái: Giáo cháu Lê Ngọc V, sinh ngày 17/11/2011 là con chung của vợ chồng cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên, nếu sau này chị Th trở về có yêu cầu Tòa án tuyên bố hủy quyết định tuyên bố mất tích và yêu cầu thay đổi nuôi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 2 Điều 56; Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 2 Điều 68 - BLDS; Khoản 4 Điều 147- BLTTDS năm 2015; Điểm a, khoản 1 Điều 24, điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH khóa 14, ngày 30/12/2016, quy định về án phí và lệ phí Tòa án; Xử:
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 68 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẨM THUỶ
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2018/HNGDST
Ngày: 21/06/2018
V/v: Ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM THỦY, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn nga

Các hội thẩm nhân dân:

Bà: Triệu Thị Tình

Ông: Lê Đình Thọ

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Lan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Thủy, tỉnh thanh Hóa:

Không tham gia.

Ngày 21 tháng 06 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cẩm thuỷ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 69 /2018/TLST-HNGĐ, ngày 04 tháng 05 năm 2018 về ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2018/QĐXX-ST, ngày 07 tháng 06 năm 2018.

Nguyên đơn: Anh Lê Xuân L– Sinh năm 1985 Nơi ĐKHKTT: Thôn M , xã Cẩm L, huyện C, tỉnh Thanh Hoá. Có mặt tại phiên toà.

Bị đơn: Chị Dương Thị Th – Sinh năm 1985 Nơi ĐKHKTT: Thôn M , xã Cẩm L, huyện C, tỉnh Thanh hoá. Vắng mặt tại phiên tòa. Đã bị TAND huyện C tuyên bố mất tích theo Quyết định số 01 /2018/QĐVDS - ST, ngày 23/03/2018 .

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 18 tháng 04 năm 2018 và bản tự khai, cũng như tại phiên tòa hôm nay anh L trình bày: Anh và chị Th kết hôn vào ngày 02/03/2011 hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Cẩm Th, huyện C, sau khi cưới vợ chồng về chung sống với gia đình anh, đến tháng 11/2011 vợ anh sinh con. Cuộc sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc. Đến năm 2015 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân bất đồng quan điểm trong cuộc sống sau đó chị Th bỏ nhà đi từ tháng 8/2015 không có tin tức địa chỉ ở đâu, nên tháng 10/2017 anh đã làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện C tuyên bố chị Th mất tích, ngày 23/03/2018 Tòa án đã tuyên bố chị Th mất tích, theo quyết định số 01/2018.

Nay để đảm bảo quyền lợi cho anh. Chị Th đã mất tích. Vì vậy, anh làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Th.

Về con cái: Vợ chồng có một con chung Cháu: Lê Ngọc V - Sinh ngày 17/11/2011. Nay ly hôn anh đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng cháu V .

Về tài sản và công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét.

Bị đơn: Chị Th đã bỏ nhà đi từ tháng 08/2015. Đã bị Tòa án nhân dân huyện C tuyên bố mất tích theo quyết định số 01/2018/QĐGQVDS - ST ngày 23/03/2018 .

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về hôn nhân giữa anh Lê Xuân L và chị Dương Th có kết hôn vào ngày 02/ 03/20011, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Cẩm Th, huyện C, tỉnh Thanh Hóa, nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng sống cùng bố mẹ anh L, tháng 11/ 2011 vợ chồng có con chung. Cuộc sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc. Đến năm 2015 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, sau đó chị Th bỏ đi từ tháng 8/2011cho đến năm 2018, không có tin tức địa chỉ ở đâu, gia đình anh L cũng như gia đình chị Thi và người thân không biết hiện nay chị Th ở đâu, không có tin tức gì, giữa chị Th và anh L không có liên lạc với nhau, nên tháng 10/2017 anh L đã làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Thủy tuyên bố chị Th mất tích. Ngày 23/03/2018 Tòa án đã tuyên bố chị Th mất tích, theo quyết định số 01/2018/QĐGQVDS - ST, ngày 23/03/2018.

Để đảm bảo quyền lợi của bản thân, anh Lý có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Th và đề nghị được tiếp tục nuôi con.

[2] Xét về hôn nhân của vợ chồng đã vi phạm nghiêm trọng về quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ theo khoản 2 Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và khoản 2 Điều 68 Bộ luật dân sự. Xử cho anh Lý được ly hôn chị Thi.

[3] Về con cái: Vợ chồng có một con chung, cháu Lê Ngọc V, sinh ngày 17/11/2011, nay ly hôn anh L có nguyện vọng tiếp tục được nuôi con. Xét nguyện vọng nuôi con của anh là chính đáng, từ trước tới nay cháu V đều ở với anh. Nay chị Th đã bị Tòa án tuyên bố mất tích. Để tiếp tục đảm bảo quyền lợi cho cháu V. Chấp nhận yêu cầu của anh L, giao cháu V cho anh L tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi thành niên là phù hợp, nếu sau này chị Th trở về có yêu cầu tuyên bố hủy quyết định tuyên bố mất tích và yêu cầu thay đổi nuôi con thì Tòa án xem xét giải quyết bằng một vụ án khác, theo quy định của pháp luật.

[4] Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết

[5] Về án phí: Anh L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Khoản 2 Điều 56; Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 2 Điều 68 - BLDS; Khoản 4 Điều 147- BLTTDS năm 2015; Điểm a, khoản 1 Điều 24, điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH khóa 14, ngày 30/12/2016, quy định về án phí và lệ phí Tòa án; Xử:

Về hôn nhân: Anh Lê Xuân L được ly hôn chị Dương Thị Th.

Về con cái: Giáo cháu Lê Ngọc V, sinh ngày 17/11/2011 là con chung của vợ chồng cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên, nếu sau này chị Th trở về có yêu cầu Tòa án tuyên bố hủy quyết định tuyên bố mất tích và yêu cầu thay đổi nuôi con thì Tòa án xem xét giải quyết bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật

Về Tài sản công nợ chung của vợ chồng: Không đề nghị giải quyết

Về án phí: Anh L phải chịu 300.000đ tiền án phí DSST được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp 300.000đ tại chi cục THADS huyện C theo biên lai thu tiền số AA/2017/0003652, ngày 04/05/2018.

Báo cho anh L biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Báo cho chi Th biết có quyền kháng cáo án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết bản án tại nơi cư trú cuối cùng.

Cỡ chữ