vanban.org

Bản án 06/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị T.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Thế T. Về con chung: Chị T và anh T chưa có con chung nên Tòa án không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa Vũ Thị T và Nguyễn Thê"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NHƯ XUÂN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 03/8/2018
V/v tranh chấp “Hôn nhân & gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Công Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Kim Sơn; 2. Ông Lê Thanh Hải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lô Thị Minh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân: Không.

Ngày 03 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Như Xuân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 42/2018/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 4 năm 2018 về việc tranh chấp “Hôn nhân và gia đình" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2018/QĐXX – ST ngày 21 tháng 6 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2018/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự.

1. Nguyên đơn: Chị Vũ Thị T - Sinh năm: 1978.

Địa chỉ: Thôn Hoàng Đồng, xã Minh Sơn, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thế T - Sinh năm 1976.

Địa chỉ: Thôn Thanh Hương, xã Xuân Quỳ, huyện Như Xuân , tỉnh Thanh Hoá.

Nơi cư trú cuối cùng: Thôn Thanh Hương, xã Xuân Quỳ, huyện Như Xuân , tỉnh Thanh Hoá.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn Khởi kiện ngày 05 tháng 4 năm 2018 và các lời khai tại Toà án nhân dân huyện Như Xuân, nguyên đơn chị Vũ Thị T trình bày:

Về hôn nhân: Chị Vũ Thị T và anh Nguyễn Thế T là vợ chồng có giấy chứng nhận kết hôn do UBND xã Minh Sơn, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 16 tháng 9 năm 2000. Anh chị kết hôn với nhau hoàn toàn tự nguyện, không ai bị ép buộc, lừa đối. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống với nhau tại gia đình nhà bố mẹ đẻ chị T tại thôn Hoàng Đồng, xã Minh Sơn, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được một tháng, đến khoảng tháng 10 năm 2000 thì anh T bỏ về thôn Thanh Hương, xã Xuân Quỳ, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa sinh sống. Đầu năm 2001 chị T có đến thôn Thanh Hương, xã Xuân Quỳ, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa để tìm anh T thì không thấy. Từ lúc anh T bỏ nhà đi đến nay không để lại tin tức, địa chỉ và cũng không liên lạc gì về với gia đình. Từ đó, đến nay gia đình, người thân và chính quyền địa phương cũng không ai biết địa chỉ, nơi ở của anh T. Ngày 06 tháng 10 năm 2017, chị T làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố anh T mất tích. Ngày 15 tháng 10 năm 2017, Tòa án nhân dân huyện Như Xuân đã Quyết định thông báo nhắn tin trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định để tìm kiếm anh T nhưng vẫn không có kết quả. Ngày 16 tháng 3 năm 2018 Tòa án nhân dân huyện Như Xuân đã Quyết định tuyên bố anh Nguyễn Thế T mất tích. Kể từ khi Tòa án tuyên bố anh T mất tích đến nay, anh T cũng không có tin tức gì. Chị T xét thấy tình cảm giữa hai người không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với anh T để anh chị chấm dứt tình trạng hôn nhân này.

Về con chung: Không có con chung nên Tòa án không xem xét.

Về tài sản chung: Không có tài sản nên Tòa án không xem xét.

Về nghĩa vụ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Tại phiên toà chị Vũ Thị T không có đề nghị thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu khởi kiện. Về việc vắng mặt của bị đơn tại phiên tòa nguyên đơn đề nghị HĐXX tiếp tục phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và nghe các đương sự trình bày tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy:

Về thủ tục tố tụng: Xét quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án thấy rằng bị đơn anh Nguyễn Thế T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Thanh Hương, xã Hóa Quỳ, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá nên căn cứ theo khoản 1 Điều 28 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình thì xác định đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Bị đơn anh Nguyễn Thế T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng nên theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vắng mặt là đúng pháp luật.

Về nội dung tranh chấp:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị T và anh Nguyễn Thế T kết hôn với nhau theo đúng nghi thức và đăng ký chứng nhận kết hôn tại UBND xã Minh Sơn, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 16 tháng 9 năm 2000. Căn cứ vào Điều 8; Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình thì chị T và anh T đủ điều kiện kết hôn với nhau, thực hiện đầy đủ thủ tục đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống với nhau tại gia đình nhà bố mẹ đẻ chị T tại thôn Hoàng Đồng, xã Minh Sơn, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được khoảng một tháng, đến khoảng tháng 10 năm 2000 thì anh T bỏ về thôn Thanh Hương, xã Xuân Quỳ, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa sinh sống. Đầu năm 2001 chị T có đến thôn Thanh Hương, xã Xuân Quỳ, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa để tìm anh T thì không thấy. Từ lúc anh T bỏ nhà đi đến nay không để lại tin tức, địa chỉ và cũng không liên lạc gì về với gia đình. Từ đó, đến nay gia đình, người thân và chính quyền địa phương cũng không ai biết địa chỉ, nơi ở của anh T. Ngày 06 tháng 10 năm 2017, chị T làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố anh T mất tích. Ngày 15 tháng 10 năm 2017, Tòa án nhân dân huyện Như Xuân đã Quyết định thông báo nhắn tin trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định để tìm kiếm anh T nhưng vẫn không có kết quả. Ngày 16 tháng 3 năm 2018 Tòa án nhân dân huyện Như Xuân đã Quyết định tuyên bố anh Nguyễn Thế T mất tích. Kể từ khi Tòa án tuyên bố anh T mất tích đến nay, anh T cũng không có tin tức gì. Hội đồng xét xử xét thấy quan hệ vợ chồng giữa chị T và anh T không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn giữa chị và anh T là phù hợp với khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014.

Về con chung: Chị T xác nhận vợ chồng chưa có con chung Tòa án không xem xét.

Về tài sản: Chị T và anh T không có tài sản gì nên Tòa án không xem xét.

Về nghĩa vụ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án xem xét.

Về án phí và Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 144, 147 BLTTDS; Điều 6; 9; 26 và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì chị Tâm phải chịu án phí HNGĐ theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 8; khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 56; 57 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144, 147 BLTTDS; Điều 6; 9; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị T.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Thế T.

Về con chung: Chị T và anh T chưa có con chung nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về tài sản: Chị T và anh T không có tài sản chung nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về nghĩa vụ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị Vũ Thị T phải chịu 300.000 đồng tiến án phí HNGD-ST nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số: AA/2016/0001805 ngày 12 tháng 4 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá. Như vậy, chị T đã nộp đủ tiền án phí HNGĐ-ST.

Án xử sơ thẩm công khai, có mặt Nguyên đơn có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; vắng mặt bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt Bản án hoặc niêm yết Bản án.

Cỡ chữ