- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị T xin ly hôn với anh T1 và yêu cầu giải quyết những vấn đề về con chung"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Khấu Thị Diễm T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 17 Luật Phí và lệ phí
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BẾNTRE Bản án số: 06/2018/HNGĐ - ST Ngày: 26-02-2018. V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC - TỈNH BẾN TRE
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Kim Sang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Truyền
2. Ông Bùi Văn Mưa Lớn
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Diễm Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre: Bà Huỳnh Thị Chấm – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 26 tháng 02 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 346/2017/TLST-HN ngày 20 tháng 11 năm 2017 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Khấu Thị Diễm T, sinh năm 1986, địa chỉ: ấp G, xã N, huyện M, tỉnh Bến Tre, có đơn xin giải quyết vắng mặt đề ngày 04/01/2018;
2. Bị đơn: Anh Bùi Quốc T1, sinh năm 1985, địa chỉ: ấp G1, xã N, huyện M, tỉnh Bến Tre, vắng mặt không lý do lần thứ 2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[
Tại đơn khởi kiện đề ngày 20/11/2017 và trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn chị Khấu Thị Diễm T trình bày:
Về hôn nhân: Trên cơ sở mai mối chị và anh Bùi Quốc T1 tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, vào năm 2010. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại nhà riêng và sống hạnh phúc được khoảng 06 năm thì bắt đầu mất hạnh phúc. Nguyên nhân mất hạnh phúc là do trong cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống dẫn đến thường xuyên cự cãi nhau. Nay chị xin được ly hôn với anh T1.
Về nuôi con chung: Trong thời gian chung sống anh chị có 01 con chung tên Bùi Thị Phương A, sinh ngày 26/9/2011, hiện đang sống với chị. Nay ly hôn chị xin được tiếp tục trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con. Chị hiện công tác tại trường tiểu học N, thu nhập hàng tháng khoảng 04 triệu đồng, đủ để nuôi con.
Về chia tài sản: Trong thời gian chung sống anh chị không có tài sản chung và cũng không có nợ ai.
Bị đơn anh Bùi Quốc T1 vắng mặt vào các lần mời của Tòa cũng như tại phiên tòa hôm nay nên không có lời trình bày. Tòa án đã ra thông báo giao nộp chứng cứ yêu cầu anh T1 cung cấp văn bản trình bày ý kiến về việc chị T xin ly hôn và yêu cầu Tòa giải quyết những vấn đề về nuôi con chung, chia tài sản chung khi ly hôn nhưng anh T1 không cung cấp.
Tại biên bản xác minh ngày 04/12/2017, đại diện chính quyền địa phương ấp G cung cấp nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng của chị T và anh T1 như sau:
Chị T và anh T1 sau khi đám cưới sống ở nhà riêng gần bên nhà vợ tại ấp G. Trong thời gian khoảng 02 tháng nay thì anh T1 có quen người phụ nữ khác, cờ bạc dẫn đến vợ chồng mất hạnh phúc.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử là đảm bảo đúng pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đảm bảo, bị đơn không chấp hành đúng quy định pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T; Về con chung: Chị T tiếp tục trực tiếp nuôi con chung tên Bùi Thị Phương A, sinh ngày 26/9/2011, anh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con do chị T không có yêu cầu; Tài sản chung, nợ chung: Không có nên không đề cập.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà, Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc nhận định:
Đối với nguyên đơn chị Khấu Thị Diễm T có đơn xin giải quyết vắng mặt đề ngày 04/01/2018 nên căn cứ vào Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị T là phù hợp.
Đối với bị đơn anh Bùi Quốc T1 đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên Tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T1 là phù hợp.
Về hôn nhân: Hôn nhân của chị Khấu Thị Diễm T và anh Bùi Quốc T1 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại nhà riêng và sống hạnh phúc được khoảng 06 năm thì bắt đầu mất hạnh phúc. Theo chị T trình bày nguyên nhân mất hạnh phúc do trong cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường hay cự cãi nhau. Anh T1 vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nên không có lời trình bày. Tuy nhiên, sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã thông báo cho anh T1 đến Tòa để tham gia hòa giải nhằm tạo điều kiện cho anh chị hàn gắn nhưng anh T1 vẫn vắng mặt không lý do chứng minh anh không có thiện chí hàn gắn đoàn tụ. Và chị T cương quyết xin được ly hôn với anh T1 vì không còn tình cảm. Điều đó chứng tỏ rằng cuộc sống hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T là có căn cứ.
Về nuôi con chung: Chị T và anh T1 có một con chung tên Bùi Thị Phương A, sinh ngày 26/9/2011, hiện đang sống với chị T. Nay ly hôn chị T có nguyện vọng nuôi con, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con. Anh T1 vắng mặt vào các lần mời của Tòa nên không có lời trình bày. Tuy nhiên, cháu A hiện đang sống với chị T và hiện tại chị T có nghề nghiệp ổn định, đủ điều kiện để đảm bảo trực tiếp nuôi cháu A. Vì vậy, nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định về thể chất, tinh thần, tâm sinh lý của cháu A nên để cháu A cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định pháp luật. Đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con thì việc chị T không yêu cầu cấp dưỡng là sự tự nguyện của chị nên ghi nhận.
Về chia tài sản: Theo chị T trình bày là vợ chồng anh chị không có tài sản chung và không có nợ ai, anh T1 đã nhận được thông báo thụ lý vụ án và thông báo giao nộp chứng cứ của Tòa án tuy nhiên anh không có ý kiến hay yêu cầu, tranh chấp gì. Do đó không có căn cứ để xác định anh chị có tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Nếu sau này có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Chị Khấu Thị Diễm T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Xét về quan điểm giải quyết vụ án của vị Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc là phù hợp với nhận định của Tòa nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 17 Luật phí và lệ phí; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Khấu Thị Diễm T.
Chị Khấu Thị Diễm T được ly hôn với anh Bùi Quốc T1.
2. Về nuôi con chung: Chị Khấu Thị Diễm T tiếp tục trực tiếp nuôi con chung tên Bùi Thị Phương A, sinh ngày 26/9/2011, anh Bùi Quốc T1 không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Khấu Thị Diễm T không có yêu cầu cấp dưỡng.
Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và các luật khác có liên quan. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3.Về chia tài sản: Trong thời gian chung sống anh chị không có tài sản chung và cũng không có nợ ai nên không đề cập.
4. Về án phí:
Chị Khấu Thị Diễm T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị Trinh đã nộp theo Biên lai thu số ******* ngày **/**/**** của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND huyện M (2b); - Chi cục THADS huyện M (1b); - UBND xã N (91, 01/2010) - Các đương sự (2b); - Lưu: Hồ sơ, VP (2b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Hoàng Kim Sang |