vanban.org

Bản án 06/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: chị Đỗ Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn D;

Xác nhận chị Đỗ Thị H và anh Nguyễn Văn D không có con chung. Xác nhận về tài sản, công sức và công nợ chung của chị H và anh D đều không có gì. Nếu sau này, anh D trở về mà có yêu cầu thì sẽ được xem xét giải quyết bằng một vụ án khác. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "chị H xin ly hôn với anh D"
  • Tòa quyết gì? Xử: chị Đỗ Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn D;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ỨNG HÒA – TP. HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2018/HNGĐ-ST
Ngày 26/01/2018
V/v tranh chấp HNGĐ

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA – TP. HÀ NỘI

- Thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Kiến

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hạ Tuấn

Ông Đặng Viết Côi

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khuyến – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 338/2017/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2017 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2018/QĐXX-ST ngµy 10 tháng 01 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị H – Sinh năm 1988 (Có mặt)

Nơi sinh: xã HX, huyện UH, TP. Hµ Néi.

Nơi ĐKHKTT: thôn TB, xã VT, huyện UH, TP Hà Nội

Chỗ ở hiện nay: xóm G, xã HX, huyện UH, TP. Hµ Néi.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn D – Sinh năm – 1985 (Vắng mặt)

Nơi sinh, nơi ĐKHKTT và nơi cư trú cuối cùng: thôn TB, xã VT, huyện UH, TP Hà Nội.

(Anh D bị TAND huyện Ứng Hòa tuyên bố mất tích ngày 20/11/2017).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, nguyên đơn chị Đỗ Thị H tr×nh bµy: Chị và anh Nguyễn Văn D kết hôn tự nguyện, có đăng tại UBND xã VT năm 2012. Sau kết hôn, vợ chồng anh chị chung sống cùng gia đình anh D ở đội 4, thôn TB, xã VT, huyện UH, TP Hà Nội. Cuộc sống vợ chồng hòa thuận, bình thường. Do kinh tế khó khăn nên đầu năm 2013, anh D đi xuất khẩu lao động ở Hàn Quốc, thỉnh thoảng có liên lạc về với chị và gia đình; thời gian này chị vẫn sinh sống tại nhà cùng bố mẹ anh D. Cuối năm 2013, anh D về nước, thời gian này vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không hiểu và thông cảm cho nhau dẫn đến tình cảm xa xút. Đến đầu năm 2014. Anh D có nói đi làm; tuy nhiên, sau đó khi anh D đi không nói gì với chị và người thân trong gia đình cũng như bạn bè; đồng thời, từ đó đến nay cũng không liên lạc gì với chị và gia đình; chị và gia đình đã đi tìm nhiều nơi, bằng nhiều biện pháp nhưng đều không có tin tức gì về anh. Do thời gian anh bỏ đi đã quá lâu, để bảo đảm cuộc sống của chị nên tháng 7/2017 chị làm đơn đề nghị và Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa đã thụ lý vụ việc yêu cầu tuyên bố anh D mất tích. Ngày 20/11/2017, Tòa án tuyên bố anh D mất tích. Nay chị nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, anh D hiện giờ vẫn không có tin tức gì. Để ổn định cuộc sống, chị làm đơn xin ly hôn với anh D.

Về con chung: vợ chồng chưa có con chung.

Về tài sản, công sức và công nợ chung của vợ chồng đều không có gì nên không yêu cầu Tòa xem xét giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai của ông Nguyễn Văn T là bố đẻ của anh D và kết quả xác minh tại chính quyền địa phương xã VT đều xác định: chị Đỗ Thị H và anh Nguyễn Văn D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã VT vào ngày 18/01/2012. Sau khi kết hôn, chị H chuyển về ở cùng anh D và gia đình anh D ở thôn TB, xã VT; đồng thời, chị H cũng cắt chuyển khẩu từ xã HX về xã VT nhập vào gia đình anh D. Cuộc sống của anh D và chị H hòa thuận, hạnh phúc cho đến cuối năm 2013, sau khi anh D đi Hàn Quốc về được một thời gian thì anh chị phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, mâu thuẫn cụ thể như thế nào thì gia đình cũng như địa phương đều không rõ. Từ đầu năm 2014 đến nay, anh D không có mặt tại địa phương, anh D đi đâu, làm gì gia đình và chính quyền địa phương đều không biết. Trong thời gian sinh sống tại địa phương anh D và chị H đều không có vi phạm gì về pháp luật và cũng không có tranh chấp, khiếu kiện gì về dân sự; anh chị chưa có con chung và cũng không có tài sản, công sức, công nợ gì. Ngày 20/11/2017, gia đình và địa phương đã nhận được quyết định của Tòa án về việc tuyên bố anh D mất tích, địa phương đã niêm yết công khai văn bản này tại trụ sở Uỷ ban, đến nay vẫn không có bất cứ một tin tức gì về anh D. Nay chị H làm đơn xin ly hôn với anh D, quan điểm của gia đình anh D cũng như địa phương đề nghị Tòa xem xét chấp nhận nguyên vọng của chị H để chị có thể ổn định cuộc sống.

Tại phiên toà hôm nay (26/01/2018), anh D vắng mặt do bị tuyên bố mất tích đến nay vẫn chưa có tin tức, chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không có thay đổi, bổ sung gì khác.

Quan điểm của Viện kiểm sát về thủ tục tố tụng: Qua việc kiểm sát hồ sơ và tại phiên tòa thấy đều đúng và đầy đủ về quan hệ pháp luật, về thẩm quyền, về người tham gia tố tụng, người tiến hành tố tụng, việc thu thập chứng cứ, tống đạt văn bản, thời hạn chuẩn bị xét xử, đưa vụ án ra xét xử. Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H đối với anh D. Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo qui định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở nhận định:

Về tố tụng: Chị Đỗ Thị H và anh Nguyễn Văn D đều có hộ khẩu thường trú tại huyện UH, cũng là nơi cư trú cuối cùng của anh D; chị H làm đơn khởi kiện theo mẫu, nộp đầy đủ các tài liệu, chứng cứ kèm theo và biên lai tiền tạm ứng án phí ly hôn. Theo qui định tại khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 70 và Điều 195 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, Toµ ¸n nh©n d©n huyÖn øng Hoµ thô lý gi¶i quyÕt vô viÖc lµ ®óng thẩm quyền. Anh Nguyễn Văn D vắng mặt do bị tuyên bố mất tích. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập, niêm yết công khai các văn bản tố tụng, giao các văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Văn T là bố đẻ của anh D. Tuy nhiên, đến thời điểm này anh D vẫn không có mặt tại địa phương. Do vËy, vụ án không hoà giải được. Tòa án đã x¸c minh thực trạng cuộc sống, t×nh tr¹ng h«n nh©n, m©u thuÉn vî chång, đồng thời xét xử vắng mặt bị đơn theo qui định tại các Điều 97, 207; 227 và 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.

Về hôn nhân: Chị H và anh D kết hôn trên cơ sở tự nguyên, hợp pháp. Tuy nhiên, sau kết hôn anh chị chung sống được một thời gian ngắn thì anh D đi nước ngoài, sau khi về nước thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, sau đó anh D bỏ đi đến này không có tin tức gì. Ngày 20/11/2017, anh D đã bị Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa tuyên bố mất tích; sau đó chị H làm đơn xin ly hôn đối với anh D. XÐt h«n nh©n gi÷a chị H và anh D không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H đối với anh D là phù hợp qui định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Chị H và anh D chưa có con chung.

Về tài sản, công sức và công nợ: chị H xác nhận đều không có gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Gỉa thiết, sau này nếu anh D trở về và có yêu cầu thì sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.

Về án phí và quyền kháng cáo: Nguyên đơn phải chịu toàn bộ tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Các đương sự có quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 271 và 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thườngvụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: chị Đỗ Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn D;

Xác nhận chị Đỗ Thị H và anh Nguyễn Văn D không có con chung.

Xác nhận về tài sản, công sức và công nợ chung của chị H và anh D đều không có gì. Nếu sau này, anh D trở về mà có yêu cầu thì sẽ được xem xét giải quyết bằng một vụ án khác.

Về án phí: Chị H ph¶i chịu 300.000® (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị H đã nộp tại Biên lai thu số 0008478 ngày 06/12/2017 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ứng Hòa.

Nguyªn ®¬n ( Chị H) cã quyÒn kh¸ng c¸o trong thêi h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n; Bị ®¬n ( Anh D) vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ