vanban.org

Bản án 06/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị H’ K Niê được ly hôn với anh Y L Byă.

Về con chung: Giao các con chung: Y M Niê, sinh ngày 11/12/2001; Y T Niê, sinh ngày 13/3/2003; Y T1 Niê, sinh ngày 14/4/2007, cho chị H’ K Niê trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Về tài sản chung và công nợ chung: Chị H’ K Niê không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn với người bị tuyên bố mất tích"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị H’ K Niê được ly hôn với anh Y L Byă.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG BÚK
TỈNH ĐẮK LẮK
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 28/6/2018
“V/v tranh chấp Hôn nhân và gia
đình”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÚK, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoa Lý.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Diễm Uyên;

Ông Trần Minh Thuận.

- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Công Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk tham gia phiên toà: Ông Lê Quý Tỉnh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2018 tại Hội trường B Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 53/2018/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2018 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2018/QĐXXST-HNGĐ, ngày 13 tháng 6 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị H’ K Niê, sinh năm 1982

Địa chỉ: Buôn E, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk: Có mặt.

Người phiên dịch cho chị Chị H’ K Niê: Ông Y M Niê.

Địa chỉ: Buôn E, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

2. Bị đơn: Anh Y L Byă, sinh năm 1978 (đã bị Tòa án tuyên bố mất tích). Nơi cư trú cuối cùng: Buôn E1, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, tại bản tự khai, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn chị H’ K Niê trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị H’ K Niê vaø anh Y L Byă kết hôn taïi Ủy ban nhân dân xã E, huyện E1 , tỉnh Đắk Lắk vào ngày 06 tháng 4 năm 2006. Sau khi kết hôn chị H’ K Niê và anh Y L Byă chung sống hạnh phúc và sinh được 03 người con, trong thời gian chung sống thì vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, anh Y L Byă thường xuyên bỏ nhà đi, đến tháng 9/2014 thì bỏ đi biệt tích đến nay không có tin tức gì. Vì vậy, chị H’ K Niê làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Y L Byă mất tích, để có căn cứ giải quyết việc ly hôn. Theo yêu cầu của chị H’ K Niê , tại Quyết định giải quyết việc dân sự số 03/2018/QĐDS-ST ngày 27/4/2018 của Tòa án nhân dân huyện Krông Búk đã tuyên bố anh Y L Byă mất tích. Nay chị H’ K Niê yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Y L Byă.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, chị H’ K Niê và anh Y L Byă có 03 con chung là: Y M Niê, sinh ngày 11/12/2001; Y T Niê, sinh ngày 13/3/2003; Y T1 Niê, sinh ngày 14/4/2007. Hiện nay anh Y L Byă đã bỏ đi không có tin tức, nên chị H’ K Niê có nguyện vọng nuôi 03 con chung không có yêu cầu gì.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị H’ K Niê không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa là đúng quy định của pháp luật. Đối với những người tham gia tố tụng nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; bị đơn anh Y L Byă đã bị Tòa án tuyên bố mất tích, vì vậy việc xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định của pháp luật.

Ý kiến quan điểm của Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk về việc giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa hôm nay thì nhận thấy giữa chị H’ K Niê và anh Y L Byă có mâu thuẫn trầm trọng, anh Y L Byă đã bỏ đi khỏi địa phương nơi cư trú và đã bị Tòa án tuyên bố mất tích. Theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị H’ K Niê, cho chị H’ K Niê được ly hôn với anh Y L Byă .Về con chung: Cần giao các con chung là Y M Niê, sinh ngày 11/12/2001; Y T Niê, sinh ngày 13/3/2003; Y T1 Niê, sinh ngày 14/4/2007 cho chị H’ K Niê trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng ; về tài sản chung cũng như nợ chung: Chị H’ K Niê không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả xét hỏi, quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Về tố tụng dân sự: Chị H’ K Niê có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Krông Búk giải quyết việc ly hôn với anh Y L Byă. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk giải quyết là đúng quy định.

. Về quan hệ hôn nhân: Chị H’ K Niê vaø anh Y L Byă kết hôn taïi Ủy ban nhân dân xã E, huyện E1, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 06 tháng 4 năm 2006. Như vậy quan hệ hôn nhân giữa chị H’ K Niê và anh Y L Byă là hợp pháp, sau khi kết hôn một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên vào năm 2014 anh Y L Byă đã bỏ đi khỏi địa phương nơi cư trú. Theo yêu cầu của chị H’ K, tại Quyết định giải quyết việc dân sự số 03/2018/QĐDS-ST ngày 27/4/2018 của Tòa án nhân dân huyện Krông Búk đã tuyên bố anh Y L Byă mất tích. Vì vậy xét yêu cầu xin ly hôn của chị H’ K Niê là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

. Về con chung: Trong thời gian chung sống, chị H’ K Niê và anh Y L Byă có 03 con chung là: Y M Niê, sinh ngày 11/12/2001; Y T Niê, sinh ngày 13/3/2003; Y T1 Niê, sinh ngày 14/4/2007. Hiện nay anh Y L Byă đã bỏ đi không có tin tức, nên chị H’ K Niê có nguyện vọng nuôi 03 con chung là phù hợp, cần chấp nhận.

. Về tài sản chung và nợ chung: Chị H’ K Niê không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

. Về án phí: Chị H’ K Niê là hộ nghèo theo quy định nên được miễn nộp án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chị H’ K Niê được ly hôn với anh Y L Byă.

Về con chung: Giao các con chung: Y M Niê, sinh ngày 11/12/2001; Y T Niê, sinh ngày 13/3/2003; Y T1 Niê, sinh ngày 14/4/2007, cho chị H’ K Niê trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.

Về tài sản chung và công nợ chung: Chị H’ K Niê không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Chị H’ K Niê là hộ nghèo theo quy định nên được miễn nộp án phí.

Về quyền kháng cáo: Chị H’ K Niê được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Y L Byă được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ