vanban.org

Bản án 06/2018/HC-ST — Hành chính

TAND tỉnh Ninh Thuận Tuyên án 28/05/2018 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/ TVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban th ng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bác yêu cầu khởi kiện của ông Đ Văn H về việc hủy Quyết định số 652/QĐ- N ngày 21/6/2017 của Chủ tịch y an nhân dân huyện T, tỉnh Ninh Thuận về việc “Giải qu ết tranh chấp qu ền sử dụng ất giữa ông Đ Văn H với ông Bùi Văn H, ất tọa lạc tại thôn L, C, hu n T”. Về án phí: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Đỗ Văn H khiếu kiện Chủ tịch UBND huyện T, tỉnh Ninh Thuận"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/ TVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban th ng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 203 Luật Đất đai; Điều 100 Luật Đất đai; Điều 101 Luật Đất đai
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2018/HC-ST
Ngày: 28 tháng 5 năm 2018
V/v: “Khiếu i n qu ết nh
giải quyết tranh chấp ất ai”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Lập

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đỗ Hồng Kỳ

2. Ông Hoàng Tâm

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Văn Nghiêm – Th ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thắng – Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 28/5/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận đã tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 58/2017/TLST-HC ngày 26/10/2017 về việc“Khiếu i n qu ết nh giải quyết tranh chấp ất ai”, theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử số 04/2018/QĐXXST-HC ngày 13/4/2018, Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2018/QĐST-HC ngày 27/4/2018, giữa các đ ơng sự:

Ng i kh i kiện: ng Đ Văn H, sinh năm 1962.

Địa chỉ: thôn L, xã C, huyện T, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).

Ng i kiện: Chủ tịch y an nhân dân

N huyện T, tỉnh Ninh Thuận.

Ng i đại diện theo ủy quyền: Ông Diệp Minh X – hó Chủ tịch N huyện T, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt; có văn bản ề ngh xét xử vắng mặt).

Ng i bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ng i bị kiện: ng Vũ Văn Q – Tr ởng phòng tài nguyên và môi tr ng huyện T, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).

Ng i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ng ùi Văn H, sinh năm 1980. Địa chỉ: thôn L, xã C, huyện T, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Ng i kh i kiện – ông Đỗ Văn H trình bày:

Tôi vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc hủy Quyết định số 652/QĐ-

N ngày 21/6/2017 của Chủ tịch N huyện T, tỉnh Ninh Thuận về việc “Giải quyết tranh chấp quyền sử dụng ất giữa ông Đ Văn H với ông Bùi Văn H, ất tọa lạc tại thôn L, C, hu n T”.

Lý do:

Năm 1976, gia đình tôi H đ ợc Ban nông hội xã P tr ớc đây giao 08 sào đất 8.000m2 , gia đình tôi tiến hành khai hoang và sản xuất nông nghiệp đến năm 1988. Cũng trong năm 1988, ông Võ Văn M đến hỏi mua đất rẫy, gia đình tôi không án. ng M nói: nếu ì không án thì cho con m ợn để con làm rẫy giùm cho ì, gia đình tôi đồng ý cho ông M m ợn. Ông M làm đ ợc 3-4 vụ rồi trả lại cho gia đình tôi.

Khi ông Võ Văn M không làm rẫy nữa, trong th i gian này, gia đình tôi vẫn lên thăm rẫy th ng xuyên. Đến năm 1992, ông ùi G qua nhà tôi m ợn 03 sào đất (3.000m2) để sản xuất nông nghiệp. Ông G hứa khi nào gia đình tôi lấy lại đất rẫy thì ông trả (Hai bên không làm giấy m ợn – trả rẫy . Năm 1996, ông G chiếm đất rẫy nhà tôi, ông cố ý xây nhà và đào giếng trên miếng đất mà ông m ợn của gia đình tôi. iết đ ợc việc xây dựng của ông G, gia đình tôi lên ngăn cản và hai bên xô xát. UBND xã P m i giải quyết vụ việc nh ng không thành. Trong 03 sào đất ông G m ợn, gia đình tôi lấy lại đ ợc 1.518m2, còn lại 1.482m2 đang tranh chấp với ông Bùi G.

UBND xã P biết rõ đất của gia đình tôi đang tranh chấp với ông G ch a giải quyết xong mà năm 1997, địa chính xã P thông đồng với ông Bùi G tổ chức đo đạc đất để quy chủ mà không thông áo cho gia đình nhà tôi iết để làm thủ tục kê khai. Lúc này, địa chính xã đo luôn diện tích 1.482m2 đất đang tranh chấp và xát nhập vào đất của ông G, do đó diện tích 1.482m2 có trong hồ sơ địa chính của xã quy chủ cho ông Bùi G, gây bất lợi cho gia đình tôi khi tranh chấp. Sau khi xát nhập đất xong, ông G chia cho con rể là ông Nguyễn Văn 575m2, còn lại chia cho con ruột là ùi Văn H 807m2. Việc tranh chấp bắt đầu từ đây.

Vì vậy, nay tôi khởi kiện tại Tòa án yêu cầu hủy Quyết định số 652/QĐ-

N ngày 21/6/2017 của Chủ tịch N huyện T, tỉnh Ninh Thuận về việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông Đ Văn H với ông ùi Văn H.

Đại diện theo ủy quyền của người bị kiện: Chủ tịch UBND huyện T – Ông Diệp Minh X, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện – Ông Vũ Văn Q, trình bày:

Ông Di p Minh X tại bản trình bày ý kiến ề ngày 16/3/2018, ông Vũ Văn Q tại phiên tòa, trình bày:

Theo đơn tranh chấp đất đề ngày 11/9/2016, ông Đ Văn H trình bày: năm 1976, mẹ ông là bà Nguyễn Thị H đ ợc Ban nông hội xã P tr ớc đây giao 08 sào đất 8.000m2 để canh tác tại khu vực thôn L, xã C hiện nay. Năm 1992, ông ùi Văn G là cha ông ùi Văn H m ợn của gia đình ông H 03 sào đất 3.000m2 để sử dụng. Đến năm 2002, ông G chết thì để cho các con là ông Nguyễn Văn (con rể và ông ùi Văn H tiếp tục sử dụng đất trên mà không trả lại đất cho gia đình ông. Hiện nay, đất của gia đình ông các con ông G đang làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQS Đ).

Theo đơn tranh chấp đất đề ngày 21/11/2016, ông ùi Văn H trình bày: Năm 1976, cha ông là ông ùi Văn G khai hoang tại khu vực thôn L, xã C một vùng đất để sử dụng canh tác hoa màu và trồng một số cây ăn trái tại đây. Đến năm 1997, nhà n ớc đo đạc bản đồ, cha ông kê khai diện tích khai hoang tr ớc đây đ ợc 15.500m2, đ ợc quy chủ và sử dụng ổn định đến nay. Sau đó, cha ông chia cho các con m i ng i một phần đất để sử dụng, ông đ ợc chia khoảng 3.000m2 hiện sử dụng đến nay. Năm 2016, ông làm thủ tục xin cấp GCNQS Đ thì ông Đ Văn H làm đơn gửi các cơ quan để tranh chấp với gia đình ông đến nay.

Sau khi tiếp nhận đợn tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông H với ông H, UBND xã C tổ chức thẩm tra, xác minh nguồn gốc, quá trình sử dụng đất của các bên tranh chấp và hòa giải theo thẩm quyền nh ng kết quả không thành, đồng th i h ớng dẫn các bên tranh chấp liên hệ cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

ng Đ Văn H tiếp tục gửi đơn đến UBND huyện T, Phòng Tài nguyên và Môi tr ng huyện đã tổ chức kiểm tra, xác minh, căn cứ theo hồ sơ địa chính và quá trình sử dụng đất nhận thấy: Diện tích 807m2 đất (không phải 3 sào nh ông H trình bày) hiện ông H đang tranh chấp với ông H có nguồn gốc do cha mẹ ông H ông ùi Văn G) khai hoang và sử dụng ổn định từ năm 1987 đến nay. Sau khi ông G chết năm 2002 thì để lại cho con trai là ông H tiếp tục sử dụng. Ông H cho rằng diện tích đất tranh chấp do ông G m ợn của gia đình ông để canh tác nh ng không cung cấp đ ợc bất cứ giấy t , chứng cứ gì chứng minh và không có quá trình sử dụng đất. o đó, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 91, Điều 21 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai không có cơ sở xem xét, giải quyết và công nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ Văn H theo quy định tại Điều 101 Luật đất đai năm 2013.

Ngày 21/6/2017, Chủ tịch UBND huyện T ban hành Quyết định số 652/QĐ-UBND về việc “Giải quyết tranh chấp quyền sử dụng ất giữa ông Đ Văn H với ông Bùi Văn H, ất tọa lạc tại thôn L, C, hu n T”, nội dung: Không công nhận việc ông Đ Văn H tranh chấp quyền sử dụng diện tích 807m2, thuộc thửa số 163a (tách từ thửa số 3) t bản đồ địa chính số 27 xã C, tại thôn L, xã C, huyện T với ông ùi Văn H.

Lý do: diện tích 807m2, thuộc thửa số 163a (tách từ thửa số 3) t bản đồ địa chính số 27 tại thôn L, xã C có nguồn gốc do ông ùi Văn G (cha ông H) khai hoang và sử dụng ổn định từ năm 1987. Sau khi ông G chết năm 2002 thì để lại cho con trai là ông ùi Văn H tiếp tục sử dụng đến nay.

Ông H không cung cấp đ ợc giấy t , chứng cứ gì chứng minh quyền sử dụng thửa đất của gia đình ông. Gia đình ông H không có quá trình sử dụng thửa đất đang tranh chấp. Ông H không cung cấp đ ợc giấy giao đất của Ban nông hội nh ông trình ày. an nông hội giao đất cho gia đình ông H là thửa đất phía Bắc hiện gia đình ông H đang sinh sống chứ không phải cấp thửa đất đang tranh chấp. Ông H nói cán bộ địa chính đo đạc không thông áo cho gia đình ông biết là không có cơ sở vì khi đo đạc gia đình ông H sử dụng thửa đất gần đối diện không thể nói không biết.

Từ những cơ sở nêu trên, Chủ tịch UBND huyện T không đồng ý hủy Quyết định số 652/QĐ- N ngày 21/6/2017 của Chủ tịch N huyện T, tỉnh Ninh Thuận về việc “Giải quyết tranh chấp quyền sử dụng ất giữa ông Đ Văn H với ông Bùi Văn H, ất tọa lạc tại thôn L, C, hu n T”.

Chủ tịch UBND huyện T đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của ông Đ Văn H.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Bùi Văn H trình bày:

Tôi giữ nguyên quan điểm về việc không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Đ Văn H về việc hủy Quyết định số 652/QĐ- N ngày 21/6/2017 của Chủ tịch UBND huyện T, tỉnh Ninh Thuận về việc “Giải quyết tranh chấp quyền sử dụng ất giữa ông Đ Văn H với ông Bùi Văn H, ất tọa lạc tại thôn L,

C, hu n T”.

Lý do: Thửa đất đang tranh chấp có diện tích 807m2, thuộc thửa số 163a (tách từ thửa số 3) t bản đồ địa chính số 27 xã C, tại thôn L, xã C có nguồn gốc do cha tôi là ông ùi Văn G khai hoang và sử dụng ổn định từ năm 1987. Sau khi cha tôi (ông G) chết năm 2002 thì để lại cho con là tôi (H) tiếp tục canh tác, sử dụng đến nay.

Tôi đồng ý với Quyết định số 652/QĐ- N ngày 21/6/2017 của Chủ tịch N huyện T, tỉnh Ninh Thuận.

Đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của ông Đ Văn H.

Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại thoại, tuy nhiên, ng i khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, ng i ị kiện vẫn giữ nguyên quyết định hành chính ị kiện, ng i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đề nghị Tòa án ác các yêu cầu của ng i khởi kiện. Hôm nay, Tòa án mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

Căn cứ Điều 157 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đại diện theo ủy quyền của ng i ị kiện – ông iệp Minh X.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận tại phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Th ký Tòa án và các đ ơng sự trong vụ án đã thực hiện đúng các quy định của Luật Tố tụng hành chính.

Về nội dung vụ án: Yêu cầu của ng i khởi kiện là không có căn cứ; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính, tuyên bác yêu cầu khởi kiện của ông Đ Văn H về việc hủy Quyết định số 652/QĐ-UBND ngày 21/6/2017 của Chủ tịch N huyện T, tỉnh Ninh Thuận về việc “Giải quyết tranh chấp quyền sử dụng ất giữa ông Đ Văn H với ông Bùi Văn H, ất tọa lạc tại thôn L, C, hu n T”.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đ ợc thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào l i trình ày, ý kiến tranh luận của đ ơng sự, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử sơ thẩm xét thấy:

[1] Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, khoản 1 Điều 115, điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định:

Ông Đ Văn H khởi kiện Quyết định số 652/QĐ- N ngày 21/6/2017 của Chủ tịch N huyện T, tỉnh Ninh Thuận là đối t ợng khởi kiện vụ án hành chính, còn trong th i hiệu khởi kiện và ông H đ ợc quyền khởi kiện.

Thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận. Vụ án thuộc tr ng hợp: “Khiếu i n qu ết nh giải quyết tranh chấp ất ai”.

Căn cứ khoản 9 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định ng i bị kiện là Chủ tịch N huyện T, tỉnh Ninh Thuận.

Xét các yêu cầu kh i kiện của ông Đỗ Văn H:

Về hình thức của Qu ết nh s 2 QĐ-UBND:

ng Đ Văn H có đơn tranh chấp đất đề ngày 11/9/2016, ông ùi Văn H đơn tranh chấp đất đề ngày 21/11/2016. UBND xã C nơi có đất tranh chấp đã tổ chức hòa giải nh ng không thành, vụ việc đ ợc chuyển lên UBND huyện T giải quyết.

Ngày 12/6/2017, hòng Tài nguyên và Môi tr ng huyện T có Báo cáo số 114/BC-PTNMT về kết quả xác minh và đề xuất h ớng giải quyết vụ tranh chấp đất giữa ông Đ Văn H và ông ùi Văn H.

Ngày 21/6/2017, Chủ tịch N huyện T, tỉnh Ninh Thuận an hành Quyết định số 652/QĐ-UBND về việc “Giải quyết tranh chấp quyền sử dụng ất giữa ông Đ Văn H với ông Bùi Văn H, ất tọa lạc tại thôn L, C, hu n T”.

Nh vậy, Quyết định số 652/QĐ- N ngày 21/6/2017 của Chủ tịch

N huyện T đ ợc an hành đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định tại Điều 202, khoản 3, khoản 4 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013.

Về nội dung của Qu ết nh s 2 QĐ-UBND:

Quyết định số 652/QĐ- N ngày 21/6/2017 của Chủ tịch N huyện T, tỉnh Ninh Thuận giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông Đ Văn H với ông ùi Văn H với nội dung:

1. Không công nhận vi c ông Đ Văn H tranh chấp quyền sử dụng di n tích 807m2, thuộc thửa ất s 163a (tách từ thửa ất s 03), tờ bản ồ a chính 27 xã C, tại thôn L, xã C, huy n T với ông Bùi Văn H.

Lý do: Di n tích 807m2 thuộc một phần thửa s 03, tờ bản ồ s 27 xã C có nguồn g c do ông Bùi Văn G (cha ông H) khai hoang và sử dụng ổn nh từ năm 1987 ến nay. Sau khi ông Bùi G chết năm 2002 thì ể lại cho con trai là ông Bùi Văn H tiếp tục sử dụng ến nay.

…

Xét thấy:

Về diện tích đất tranh chấp: ng Đ Văn H trình ày, gia đình ông tranh chấp đất với gia đình ông Bùi G diện tích 1.482m2. Tuy nhiên, trong Quyết định số 652/QĐ- N ngày 21/6/2017, Chủ tịch N huyện T chỉ giải quyết tranh chấp đất giữa ông Đ Văn Hvà ông Bùi Văn H (con ông G) diện tích 807m2 thuộc một phần thửa số 03, t bản đồ số 27 xã C, do đó, Hội đồng xét xử chỉ xem xét, giải quyết đối với diện tích 807m2 đất tranh chấp.

Tại thôn L, khoảng th i gian từ năm 1976-1990, Ban nông hội xã P (hiện nay tách thành xã P và xã C; thửa đất ông Đ Văn H và ông ùi Văn H tranh chấp tọa lạc tại địa phận xã C) cấp (giao) đất cho một số hộ dân để sản xuất, trong đó, có gia đình à Nguyễn Thị H (mẹ ông H . Gia đình à H canh tác trồng hoa màu nh ng do th i tiết không thuận lợi, đến khoảng năm 1990-1992 thì gia đình à H chuyển sang làm nghề biển và bỏ không đất rẫy.

Cùng th i gian Ban nông hội giao đất cho một số hộ dân thì ông ùi Văn G cha ông ùi Văn H cũng khai hoang và sử dụng đất tại thửa đất bên cạnh, tiếp giáp đất nhà ông H về phía Nam. Gia đình ông G sử dụng đất từ năm 1987. Năm 1997, Nhà n ớc tiến hành đo đạc bản đồ địa chính, toàn bộ diện tích đất ông G khai hoang đ ợc đo đạc quy chủ thành thửa số 03, t bản đồ số 27 xã P (nay là xã C) tổng diện tích là 15.551m2 loại đất màu, chủ sử dụng là ông Bùi Văn G. Cùng th i gian này gia đình à Nguyễn Thị H cũng đ ợc đo đạc và quy chủ sử dụng thửa đất số 93a, t bản đồ số 22 xã P (nay là xã C). Hai thửa đất nhà ông G và bà H có ranh giới cách nhau là một con đ ng đất. Năm 2002, ông G chết để lại cho các con sử dụng đất, trong đó ông ùi Văn H đ ợc để lại 3.000m2 đất tiếp tục sử dụng.

Năm 2016, khi ông Đ Văn H phát sinh tranh chấp đất với ông ùi Văn H, UBND xã C đã tổ chức thẩm tra, xác minh nguồn gốc, quá trình sử dụng đất của các bên tranh chấp, trong đó xác nhận: Nguồn gốc thửa đất tranh chấp do ông ùi Văn G khai hoang năm 1980 và để lại một phần cho con trai là ông ùi Văn H vào năm 2000.

ng Đ Văn H trình ày: Năm 1997, cán ộ địa chính xã P tổ chức đo đạc đất để quy chủ mà không thông áo cho gia đình nhà ông iết để làm thủ tục kê khai. Hội đồng xét xử thấy rằng, việc trình ày của ông H là không có căn cứ, ởi lẽ, gia đình ông H là ng i địa ph ơng, c trú và sinh sống tại xã C, thửa đất gia đình ông H đang sử dụng giáp ranh thửa đất đang tranh chấp với ông H ằng con đ ng đất. Vì vậy, ông H không thể nói gia đình ông không iết việc N xã đo đạc quy chủ đất cho các hộ dân.

ng Đ Văn H trình ày: Thửa đất đang tranh chấp có nguồn gốc do an nông hội giao đất cho gia đình ông. Tuy nhiên, ông H không cung cấp đ ợc giấy giao đất của an nông hội. hía N huyện T khẳng định, an nông hội cấp đất cho gia đình ông H là thửa đất phía ắc hiện gia đình ông H đang sinh sống chứ không phải cấp thửa đất đang tranh chấp.

ng Đ Văn H trình bày: Năm 1992, ông ùi G qua nhà gia đình ông H m ợn 03 sào đất 3.000m2 để sản xuất nông nghiệp trong đó có diện tích 807m2 đang tranh chấp). Tuy nhiên, ông H cũng không cung cấp đ ợc các giấy t theo Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 và các chứng cứ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất theo điểm a khoản 1 Điều 91 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai. Gia đình ông H cũng không có quá trình sử dụng thửa đất đang tranh chấp để đủ điều kiện đ ợc cấp GCNQS Đ theo quy định tại Điều 101 Luật đất đai năm 2013.

Nh vậy, có đủ căn cứ khẳng định, diện tích 807m2 thuộc một phần thửa số 03, t bản đồ số 27 xã C có nguồn gốc do ông Bùi Văn G cha ông ùi Văn H) khai hoang và sử dụng ổn định từ năm 1987 đến nay theo quy định tại Điều 21 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ. Chủ tịch UBND huyện T giải quyết không công nhận việc tranh chấp đất cho ông Đ Văn H là có cơ sở.

Từ các nội dung trên, xét thấy, Quyết định số 652/QĐ- N ngày 21/6/2017 của Chủ tịch N huyện T đ ợc ban hành đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, nội dung phù hợp quy định pháp luật. Yêu cầu khởi kiện của ông Đ Văn H về việc hủy quyết định này là không có cơ sở chấp nhận.

Hội đồng xét xử ác yêu cầu khởi kiện của ông Đ Văn H nh đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận tại phiên tòa và đề nghị của ng i ị kiện – Chủ tịch N huyện T và ng i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông ùi Văn H.

o yêu cầu khởi kiện không đ ợc chấp nhận, ông Đ Văn H phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, Điều 164, điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 194, Điều 204, Điều 206, Điều 211, Điều 213 Luật Tố tụng hành chính năm 2015;

- Điều 100; Điều 101, Điều 202, khoản 3, khoản 4 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013;

- Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 91 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai;

- Nghị quyết số 326/2016/ TVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban th ng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Đ Văn H về việc hủy Quyết định số 652/QĐ- N ngày 21/6/2017 của Chủ tịch y an nhân dân huyện T, tỉnh Ninh Thuận về việc “Giải qu ết tranh chấp qu ền sử dụng ất giữa ông Đ Văn H với ông Bùi Văn H, ất tọa lạc tại thôn L, C, hu n T”.

2. Về án phí:

Ông Đ Văn H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hành chính sơ thẩm nh ng đ ợc khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0013845 ngày 06/10/2017 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Thuận.

Ông Đ Văn H đã nộp đủ án phí hành chính sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, các đ ơng sự hoặc ng i đại diện hợp pháp của đ ơng sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong th i hạn 15 M i lăm ngày kể từ ngày tuyên án; các đ ơng sự hoặc ng i đại diện hợp pháp của đ ơng sự không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong th i hạn 15 (M i lăm ngày kể từ ngày bản án đ ợc giao hoặc đ ợc niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận có quyền kháng nghị trong th i hạn 15 M i lăm ngày, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong th i hạn 30 Ba m ơi ngày, kể từ ngày tuyên án.

Ngày tuyên án 28/5/2018./.

Cỡ chữ