vanban.org

Bản án 06/2018/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị C đối với bà Nguyễn Mỹ H và ông Nguyễn Ngọc C.

Buộc bà Nguyễn Mỹ H và ông Nguyễn Ngọc C có trách nhiệm liên đới trả cho bà Mai Thị C số tiền là 20.980.000 (hai mươi triệu chín trăm tám mươi nghìn) đồng. Ghi nhận bà Mai Thị C không yêu cầu tính lãi suất số tiền trên. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "tranh chấp về nợ hụi giữa bà Mai Thị C và bà Nguyễn Mỹ H, ông Nguyễn Ngọc C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị C đối với bà Nguyễn Mỹ H và ông Nguyễn Ngọc C.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẾN TRE
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2018/DS-ST
Ngày: 29-01-2018
V/v: “tranh chấp nợ hụi”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Kim Trường Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hiền.

2. Ông Trần Văn Hổ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Phương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Ngày 29 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 242/2017/TLST-DS ngày 03 tháng 10 năm 2017 về “tranh chấp nợ hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2018/QĐXX-ST ngày 02 tháng 01 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Mai Thị C, sinh năm 1956.

Địa chỉ: Khu phố B, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

Người đại diện hợp pháp của bà Mai Thị C: Ông Huỳnh Ngọc L, sinh năm 1990; địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 02 tháng 01 năm 2018). Có mặt.

2. Bị đơn: - Bà Nguyễn Mỹ H, sinh năm 1972. Vắng mặt.

- Ông Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1971. Vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Đại lộ Đ, khu phố B, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 06/6/2017,bản tự khai, các văn bản, tài liệu chứng cứ cung cấp cho Tòa án và tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Mai Thị C là ông Huỳnh Ngọc L trình bày:

Bà Mai Thị C có tham gia hai dây hụi do bà Nguyễn Mỹ H làm chủ hụi, cụ thể như sau:

- Dây hụi thứ nhất: Hụi 2.000.000 đồng, mở ngày 05/4/2016 (âm lịch), mỗi tháng khui 01 lần, bà C tham gia 01 phần đã đóng 09 lần số tiền là 10.580.000 (mười triệu năm trăm tám mươi nghìn) đồng.

- Dây hụi thứ hai: Hụi 1.000.000 đồng, mở ngày 01/9/2016 (âm lịch), mỗi tháng khui 01 lần, bà C tham gia 01 phần đã đóng 16 lần số tiền là 10.400.000 (mười triệu bốn trăm nghìn) đồng.

Tổng cộng, bà C đã đóng cho bà H số tiền hụi là 20.980.000 (hai mươi triệu chín trăm tám mươi nghìn) đồng.

Ngày 28/12/2016 và ngày 07/7/2017, bà Nguyễn Mỹ H có làm giấy xác nhận nợ bà Mai Thị C số tiền là 20.980.000 (hai mươi triệu chín trăm tám mươi nghìn) đồng.

Nay bà Mai Thị C yêu cầu bà Nguyễn Mỹ H và ông Nguyễn Ngọc C trả số tiền là 20.980.000 (hai mươi triệu chín trăm tám mươi nghìn) đồng và không yêu cầu tính lãi suất số tiền trên.

Bị đơn bà Nguyễn Mỹ H và ông Nguyễn Ngọc C trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến hay yêu cầu của bà H, ông C; do đó Tòa án không thể tiến hành hòa giải được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

- Bà Mai Thị C khởi kiện bà Nguyễn Mỹ H, ông Nguyễn Ngọc C. Hiện nay, bà Nguyễn Mỹ H, sinh năm 1972 và ông Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1971; cùng cư trú tại: Khu phố B, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Bà Nguyễn Mỹ H và ông Nguyễn Ngọc C là bị đơn được Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà Nguyễn Mỹ H và ông Nguyễn Ngọc C.

Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn khởi kiện ngày 06/6/2017 và tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Huỳnh Ngọc L yêu cầu bà Nguyễn Mỹ H và ông Nguyễn Ngọc C trả số tiền là 20.980.000 (hai mươi triệu chín trăm tám mươi nghìn) đồng theo giấy xác nhận nợ ngày 28/12/2016 và ngày 07/7/2017, yêu cầu của bà Mai Thị C là tranh chấp nợ hụi được Tòa án xem xét giải quyết theo quy định tại Điều 471 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về nội dung tranh chấp: Vào ngày 28/12/2016 và ngày 07/7/2017, bà Nguyễn Mỹ H có lập giấy xác nhận nợ số tiền là 20.980.000 (hai mươi triệu chín trăm tám mươi nghìn) đồng, việc góp hụi hai bên hoàn toàn tự nguyện nên căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án công nhận hợp đồng góp hụi giữa bà Mai Thị C và bà Nguyễn Mỹ H là có thật và hợp pháp.

Xét yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị C yêu cầu bà Nguyễn Mỹ H trả số tiền là 20.980.000 (hai mươi triệu chín trăm tám mươi nghìn) đồng. Hội đồng xét xử nhận thấy: Bà Nguyễn Mỹ H và ông Nguyễn Ngọc C vắng mặt tại phiên tòa nhưng căn cứ theo lời trình bày của người đại diện hợp pháp cho bà Mai Thị C là ông Huỳnh Ngọc L, giấy xác nhận nợ ngày 28/12/2016 và ngày 07/7/2017 có chữ ký và họ tên của bà Nguyễn Mỹ H nên có cơ sở khẳng định bà Mai Thị C đã tham gia góp hụi do bà Nguyễn Mỹ H làm chủ hụi với số tiền bà C đã đóng cho bà H là 20.980.000 (hai mươi triệu chín trăm tám mươi nghìn) đồng. Do bà H tuyên bố vỡ hụi nên bà C khởi kiện yêu cầu bà H trả số tiền trên. Việc bà H không thực hiện giao tiền hụi cho bà C là vi phạm nghĩa vụ của chủ hụi được quy định tại Điều 15 của Nghị định số: 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường. Căn cứ giấy xác nhận nợ ngày 28/12/2016 và ngày 07/7/2017, bà Nguyễn Mỹ H thừa nhận còn nợ bà Mai Thị C số tiền là 20.980.000 (hai mươi triệu chín trăm tám mươi nghìn) đồng. Do đó, bà Mai Thị C khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Mỹ H trả số tiền là 20.980.000 (hai mươi triệu chín trăm tám mươi nghìn) đồng là phù hợp quy định tại Điều 14 của Nghị định số: 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường.

Xét trách nhiệm liên đới của ông Nguyễn Ngọc C: Theo giấy xác nhận nợ ngày 28/12/2016 và ngày 07/7/2017, bà Nguyễn Mỹ H là người ký nhận nợ, không có ông Nguyễn Ngọc C ký nhận nợ. Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bà Mai Thị C là ông Huỳnh Ngọc L cho rằng giấy xác nhận nợ chỉ có bà H ký tên nhưng việc bà C đưa tiền đóng hụi cho bà H có lần ông C nhận tiền rồi đưa cho bà H nên ông C biết việc giao dịch góp hụi giữa bà C và bà H; bà H nhận tiền đóng hụi của bà C nhằm mục đích trang trải cuộc sống gia đình và công việc làm ăn của bà H, ông C. Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần ông C và bà H nhưng ông C và bà H đều không đến, cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu của bà C nên mặc nhiên thừa nhận số tiền nợ của bà C và phải chịu hậu quả bất lợi đối với yêu cầu của bà C. Ngoài ra, bà H và ông C là vợ chồng đang tồn tại hôn nhân hợp pháp theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 19/4/2002 của Ủy ban nhân dân phường P, thị xã B (nay là thành phố B), tỉnh Bến Tre; việc giao dịch góp hụi giữa bà C và bà H là trong thời kỳ hôn nhân của bà H, ông C. Việc bà H nhận tiền của bà C nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình nên ông C có trách nhiệm liên đới với bà H trả số tiền là 20.980.000 (hai mươi triệu chín trăm tám mươi nghìn) đồng là phù hợp theo quy định tại Điều 288 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 27 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Từ những phân tích trên, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị C đối với bà Nguyễn Mỹ H và ông Nguyễn Ngọc C về việc yêu cầu bà Nguyễn Mỹ H và ông Nguyễn Ngọc C có trách nhiệm liên đới trả số tiền là 20.980.000 (hai mươi triệu chín trăm tám mươi nghìn) đồng.

Về lãi suất: Do các bên đương sự không có thỏa thuận lãi suất và bà Mai Thị C không yêu cầu tính lãi suất đối với số tiền trên là tự nguyện và phù hợp theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên Tòa án ghi nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án thì bà Nguyễn Mỹ H và ông Nguyễn Ngọc C phải chịu là: 20.980.000 đồng x 5% = 1.049.000 (một triệu không trăm bốn mươi chín nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 471, 288 và Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 27 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị định số: 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị C đối với bà Nguyễn Mỹ H và ông Nguyễn Ngọc C.

Buộc bà Nguyễn Mỹ H và ông Nguyễn Ngọc C có trách nhiệm liên đới trả cho bà Mai Thị C số tiền là 20.980.000 (hai mươi triệu chín trăm tám mươi nghìn) đồng. Ghi nhận bà Mai Thị C không yêu cầu tính lãi suất số tiền trên.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

- Bà Nguyễn Mỹ H và ông Nguyễn Ngọc C phải nộp là 1.049.000 (một triệu không trăm bốn mươi chín nghìn) đồng.

- Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp cho bà Mai Thị C là 524.500 (năm trăm hai mươi bốn nghìn năm trăm) đồng theo biên lai thu số 0011428 ngày 02 tháng 10 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

3. Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ