vanban.org

Bản án 06/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Văn P kiện đòi lại tài sản đối với vợ chồng bà Trần Thị H, ông Nguyễn Văn A là hợp pháp.

Buộc vợ chồng bà Trần Thị H, ông Nguyễn Văn A phải có trách nhiệm thanh toán trả lại cho ông Vũ Văn P số tiền 95.000.000đ (chín mươi lăm triệu đồng) và 25 chỉ vàng 24 K 9999. Án phí: - Vợ chồng bà Trần Thị H và ông Nguyễn Văn A phải nộp 9.265.000đ (chín triệu hai trăm sáu mươi lăm nghìn đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "kiện đòi lại tài sản"
  • Tòa quyết gì? Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Văn P kiện đòi lại tài sản đối với vợ chồng bà Trần Thị H, ông Nguyễn Văn A là hợp pháp.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 164 Bộ luật Dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẢI HẬU
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2018/DS-ST
Ngày 01-3-2018
V/v: “Kiện đòi lại tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH

- TAnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lại Văn Tùng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Tiến Sử

2. Bà Trần Thị Phượng

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Thắm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hải Hậu.

Ngày 01 tháng 3 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 47/2018/TLST-TCDS ngày 07 tháng 11 năm 2017 về tranh chấp kiện đòi lại tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2018/QĐXXST-TCDS ngày 18 tháng 01 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Vũ Văn P, sinh năm 1962. Địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn F, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

- Bị đơn: Vợ chồng bà Trần Thị H, sinh năm 1974.

và ông Nguyễn Văn A, sinh năm 1968.

Địa chỉ: Tổ dân phố M, thị trấn F, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

(Có mặt ông P, ông A, bà H).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 02 tháng 6 năm 2017 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn ông Vũ Văn P trình bày:

Ông Vũ Văn P với vợ chồng bà Trần Thị H, ông Nguyễn Văn A có mối quan hệ quen biết Ang xóm láng giềng với nhau. Do tin tưởng ngày 30-10-2009 (âm lịch) vợ chồng ông P, bà Lưu Thị Oanh (đã chết năm 2015) có cho bà H vay số tiền 95.000.000đ (chín mươi lăm triệu đồng) và 25 chỉ vàng 24 K 9999, thời hạn trả nợ hai bên thỏa thuận đến tháng 12 năm 2009 bà H sẽ thanh toán trả hết nợ cho vợ chồng ông P. Vợ chồng ông P giao tiền vàng cho một mình bà H nhận tại nA ông P không có ai làm chứng, không có mặt ông A. Số vàng tiền nói trên giao nhận làm mấy lần, từng lần giao nhận đến nay ông P không nhớ vì thời gian đã lâu, bà H nói vay tiền, vàng về để làm vốn kinh doanh buôn bán muối cùng với bố đẻ bà H, cho vay có thỏa thuận lãi bằng miệng khi giao nhận vàng, tiền hai bên không viết giấy biên nhận. Khi đến thời hạn trả nợ vợ chồng ông P có đến nA vợ chồng bà H, ông A đòi nợ nhưng vợ chồng bà H, ông A khất lần chưa có trả nợ. Ngày 15-5-2010 âm lịch, bà H đã tự nguyện viết giấy vay và khất nợ với nội dung bà H khất lại mỗi tháng trả 5.000.000 triệu đồng, thời hạn bắt đầu trả từ tháng 5/2010 âm lịch trở đi đến tháng 5/2011 vợ chồng bà H, ông A sẽ thanh toán trả cho vợ chồng ông P 11 chỉ vàng 24 K 9999, đến tháng 12/2011 vợ chồng bà H, ông A sẽ thanh toán trả cho vợ chồng ông P 14 chỉ vàng 24 K 9999 và số tiền 95.000.000đ, bà H hứa thanh toán theo đúng thỏa thuận, nếu sai vợ chồng bà H xin chịu hoàn toàn trước pháp luật, bà H đã ký vào giấy vay và khất nợ giao cho vợ chồng ông P giữ bản gốc. Trong thời gian vợ chồng bà H, ông A hứa trả nợ thì vợ ông P bị mắc bệnh ung thư đại tràng, ông P đã nhiều lần đến nA vợ chồng bà H, ông A để đòi nợ lấy tiền chữa bệnh cho vợ nhưng vợ chồng bà H, ông A vẫn cố tình khất lần, dây dưa không có thiện trí trả nợ cho vợ chồng ông P. Hiện nay vợ chồng bà H và ông A còn nợ của ông P số tiền vay gốc là 95.000.000đ và 25 chỉ vàng 24 K 9999, thời gian gần đây ngày 16-05-2017 ông P đến nA vợ chồng bà H, ông A đòi nợ, bà H tuyên bố không trả còn ông A đuổi ông P ra khỏi nA và cầm điếu cày đánh ông P và tuyên bố vợ chồng ông A không nợ gì ông P, buộc ông P phải làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết. Đến nay ông P vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết buộc vợ chồng bà H, ông A phải có trách nhiệm thanh toán trả nợ cho ông P số nợ gốc 95.000.000đ (chín mươi lăm triệu đồng chẵn) và 25 chỉ vàng 24 K 9999 còn khoản tiền lãi suất ông P cho ông A, bà H không lấy nữa.

Bị đơn vợ chồng bà Trần Thị H và ông Nguyễn Văn A đã được Tòa án giao cho nhận Thông báo về việc thụ lý vụ án số 47/TB-TLVA ngày 07-11-2017 và bản sao đơn khởi kiện của ông Vũ Văn P, bản sao giấy vay và khất nợ; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 52/TB-TA ngày 11-12-2017. Hết thời hạn ghi trong thông báo nhưng vợ chồng bà H, ông A không có văn bản ghi ý kiến của mình để giao nộp cho Toà án, bà H cũng không đến Tòa án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tòa án đã nhiều lần triệu tập bà H đến làm việc và nhận các văn bản tố tụng nhưng bà H cố tình không đến nên Toà án tiến Anh giao các văn bản sau: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số; Quyết định hoãn phiên tòa cho ông A nhận thay bà H theo đúng trình tự tố tụng. Vì vậy bà H đã biết được quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng.

Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 17 tháng 01 năm 2018 ông Nguyễn Văn A trình bày: Ông A không biết gì về việc vay nợ giữa bà Trần Thị H và bà Lưu Thị Oanh (đã chết) là vợ ông P, ông A không cùng bà H đi vay nợ của bà Oanh, vì ông A thường xuyên đi làm ăn xa ở thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng từ năm 2006 đến năm 2016, bà H cũng không thông báo cho ông A biết về số nợ ông P khai trên, chỉ đến khi bà Oanh đến nA gặp bà H đòi nợ khoảng năm 2010, bà Oanh trình bày bà H có vay nợ của bà Oanh một số tiền, thì ông A mới biết bà H có vay nợ của bà Oanh, bà Oanh và bà H cũng không nói cho ông A biết cụ thể số nợ là bao nhiêu, sau đó ông A đi làm ăn tiếp và có gửi tiền về và bảo bà H trả nợ cho bà Oanh, việc vay nợ giữa hai bà với nhau chứ không có mặt ông A và ông P tham gia. Sau khi bà Oanh chết được mấy năm ông A thấy ông P thuê người đến đòi nợ thì ông A mới vỡ nở ra, ông A có hỏi bà H về số nợ trước đây bà H vay nợ của bà Oanh thì bà H trả lời là đã thanh toán trả hết nợ cho bà Oanh rồi nhưng đến nay ông A, bà H không có văn bản giấy tờ gì làm bằng chứng. Khi Tòa án giao cho ông A nhận bản sao giấy vay và khất nợ ông A có đưa về hỏi bà H, thì bà H khẳng định đó đúng là chữ viết và chữ ký của bà H. Nay ông P tìm thấy tờ giấy vay và khất nợ do bà H viết đã đi khởi kiện đòi nợ vợ chồng ông A, bà H. Đến nay ý kiến của ông A là không nhất trí thanh toán trả nợ cho ông P số tiền và số vàng như ông P khởi kiện vì ông A không tham gia vay nợ nên không biết gì về số nợ này, thời gian vay nợ đã qua lâu được 6 đến 7 năm nay.

Tại phiên toà: ông Vũ Văn P và ông Nguyễn Văn A vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày. Bà Trần Thị H trình bày: Từ năm 2004 bà H đã vay tiền của bà Oanh để lấy vốn làm ăn như cho người khác vay lại và đầu tư cho ông A làm ăn ở miền nam, bà H công nhận bà H có vay nợ của bà Oanh (vợ ông P) số tiền 95.000.000đ (chín mươi lăm triệu đồng) và 25 chỉ vàng 24 K 9999, ngày 15 tháng 5 năm 2010 bà H khẳng định đã viết giấy vay và khất nợ có nội dung đúng như bản sao giấy vay và khất nợ mà Tòa án đã giao cho ông A nhận là hoàn toàn đúng sự thật nhưng tại phiên tòa hôm nay bà H trình bày đã thanh toán trả hết số nợ nói trên cho vợ chồng ông P, bà Oanh nên bà không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P, đến nay bà H không có chứng cứ gì để chứng minh về việc đã thanh toán trả nợ cho vợ chồng ông P, bà Oanh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bà Trần Thị H không đến Tòa án làm việc lần nào, không đến nhận các văn bản tố tụng, bà H và ông Nguyễn Văn A không có bản tự khai nộp cho Tòa án là không chấp Anh quyết định của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Vũ Văn P khởi kiện “Đòi lại tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự Điều 164; 166 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu.

Về nội dung vụ án: Hợp đồng vay số tiền 95.000.000đ (chín mươi lăm triệu đồng) và 25 chỉ vàng 24 K 9999, giữa vợ chồng ông Vũ Văn P và bà Trần Thị H là có thật và phù hợp với pháp luật. Việc vay nợ giữa vợ chồng ông P và bà H được chứng minh bằng giấy vay và khất nợ do bà H viết ngày 15 tháng 5 năm 2010, đến nay vợ chồng bà H và ông A công nhận chữ viết và chữ ký trong giấy vay và khất nợ này là của bà H nhưng bà H và ông A lại cho rằng bà H đã thanh toán trả hết nợ cho bà Oanh vợ ông P. Xét lời khai của bà H và ông A là không có căn cứ, bởi vì cho đến nay vợ chồng bà H, ông A không có chứng cứ gì để chứng minh về việc bà H đã thanh toán trả hết nợ cho bà Oanh vợ ông P. Do đó lời khai của bà H và ông A là không có căn cứ. Hiện nay vợ chồng bà H, ông A còn nợ của ông P số tiền, vàng gốc là 95.000.000đ (chín mươi lăm triệu đồng) và 25 chỉ vàng 24 K 9999 chưa thanh toán. Trong giấy vay và khất nợ có ghi thời hạn bà H thanh toán trả hết nợ cho vợ chồng ông P vào tháng 12 năm 2011, đối chiếu với quy định của Điều 429 Bộ luật dân sự năm 2015 thì thấy ông P chỉ có quyền khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản trong ba năm từ tháng 01/2012 đến hết tháng 01 năm 2015. Đến ngày 02-6-2017 ông P mới làm đơn khởi kiện thì thời hiệu khởi kiện đã hết nên ông P chỉ có quyền kiện đòi lại số tiền, vàng gốc mà vợ chồng ông đã đưa cho bà H vay, đến nay ông P chỉ yêu cầu đòi lại số tiền, vàng gốc đã đưa cho bà H vay mà không yêu cầu tính lãi suất là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc nên về vấn đề lãi suất Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết. Mặc dù ông A không trực tiếp cùng bà H đến vay nợ của vợ chồng ông P nhưng từ năm 2010 ông A đã biết được bà H có vay nợ của vợ chồng ông P vì ông A có thấy bà Oanh vợ ông P đến nA ông để đòi nợ, ông A đi làm ăn xa có gửi tiền về và bảo bà H trả nợ cho bà Oanh sự việc này được chứng minh bằng lời khai của ông A tại biên bản hòa giải, tại phiên tòa hôm nay bà H trình bày bà có vay tiền của bà Oanh và một số người khác để làm vốn kinh doanh buôn bán như cho người khác vay lại và đầu tư cho ông A làm ăn ở miền nam, bà có nói cho ông A biết việc bà có đi vay nợ của mọi người. Vì vậy việc vay nợ của bà H với mục đích phát triển kinh tế gia đình. Từ những căn cứ nêu trên, đã có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P, buộc vợ chồng bà H, ông A phải có trách nhiệm phải thanh toán trả lại cho ông P số tiền, vàng gốc là 95.000.000đ (chín mươi lăm triệu đồng) và 25 chỉ vàng 24 K 9999 là phù hợp với Điều 164; 166; 385; 463; 466 Bộ luật dân sự năm 2015.

Án phí dân sự sơ thẩm: Vợ chồng bà Trần Thị H, ông Nguyễn Văn A phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí cho ông Vũ Văn P đã nộp là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 164; 166; 385; 463; 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

1. Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Văn P kiện đòi lại tài sản đối với vợ chồng bà Trần Thị H, ông Nguyễn Văn A là hợp pháp.

2. Buộc vợ chồng bà Trần Thị H, ông Nguyễn Văn A phải có trách nhiệm thanh toán trả lại cho ông Vũ Văn P số tiền 95.000.000đ (chín mươi lăm triệu đồng) và 25 chỉ vàng 24 K 9999.

3. Án phí: - Vợ chồng bà Trần Thị H và ông Nguyễn Văn A phải nộp 9.265.000đ (chín triệu hai trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).

- Ông Vũ Văn P được hoàn trả lại số tiền đã nộp tạm ứng án phí là 4.000.000đ (bốn triệu đồng) tại biên lai số 0002330 ngày 07-11-2017 của Chi cục thi Anh án dân sự huyện Hải Hậu.

4. Về nghĩa vụ thi Anh án:

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi Anh án của người được thi Anh án cho đến khi thi Anh án xong, tất cả các khoản tiền, Ang tháng bên phải thi Anh án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi Anh án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

5. Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi Anh theo quy định tại Điều 2 Luật Thi Anh án dân sự thì người được thi Anh án dân sự. Người phải thi Anh án dân sự có quyền thoả thuận thi Anh án, quyền yêu cầu thi Anh án, tự nguyện thi Anh án hoặc bị cưỡng chế thi Anh án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi Anh án dân sự; thời hiệu thi Anh án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi Anh án dân sự.

Cỡ chữ