- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "yêu cầu thực hiện hợp đồng chuyển nhượng QSD đất"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!!!!!!!!!!!!!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM! QUẬN!THỐT!NỐT !!!!!!TP.!CẦN!THƠ! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2018/DS-ST Ngày: 23.01.2018 V/v “Tranh chấp hợp đồng chuyển Nhượng quyền sử dụng đất" |
NHÂN!DANH!
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TN - TP T
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Ông Nguyễn!Trung!Hiếu
Các"Hội"thẩm"nhân"dân:
1. Ông Nguyễn!Văn!Đông!
2. Bà Nguyễn!Kim!Phượng!
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh!Tuấn!Anh - Thư ký Tòa án Nhân dân quận TN - Tp. T.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận TN - Tp. T tham gia phiên tòa: Bà Đỗ!Thị!Thùy!Trang!– Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án Nhân dân quận TN - thành phố T tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 81/2017/TLST-DS ngày 31 tháng 5 năm 2017 về việc “Tranh"chấp"hợp"đồng" chuyển"Nhượng"quyền"sử"dụng"đất”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 733B/2017/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 12 năm 2017, giữa các đương sự:
Nguyên"đơn: Ông Nguyễn!Văn!H!–!sinh năm: 1972 (có"mặt)
Bị"đơn: 1. Ông Nguyễn!Văn!N!–!sinh năm: 1953 (vắng"mặt)
2. Bà Đoàn!Thị!L!– sinh năm: 1954 (vắng"mặt)
Người"có"quyền"lợi,"nghĩa"vụ"liên"quan:
1. Nguyễn!Ngọc!G!– sinh năm: 1977 (vắng"mặt)
2. Nguyễn!Ngọc!S!– sinh năm: 1980 (vắng"mặt)
3. Nguyễn!Ngọc!H!– sinh năm: 1984 (vắng"mặt)
4. Nguyễn!Thị!Bích!T!– sinh năm: 1986 (vắng"mặt)
Cùng địa chỉ: Khu vực TA, phường TH, quận TN, thành phố T.
5.!Nguyễn!Thị!C!!– sinh năm: 1975 (vắng"mặt)
Địa chỉ: khu vực TP, phường TH1, quận TN, thành phố T.
6.!Nguyễn!Thị!Kim!N!– sinh năm: 1989 (vắng"mặt)
Địa chỉ: khu vực LT, phường TL, quận TN, thành phố T.
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
Theo đơn khởi kiện và qua các bản tự khai, biên bản hòa giải, nguyên đơn ông Nguyễn Văn H trình bày như sau:
Vào ngày 27.5.2000, vợ chồng ông Nguyễn Văn N, bà Đoàn Thị L cùng các con có thỏa thuận chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn H diện tích đất chiều ngang 18m, chiều dài 40m, tương đương 720m2, loại đất CLN, tại thửa 245, tờ bản đồ số 04, đất tọa lạc tại khu vực TA, phường TH, quận TN, do ông Nguyễn Văn N đại diện hộ đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000058, cấp ngày 19.8.1997, với giá chuyển Nhượng là 14 chỉ vàng 24k, hai bên có làm giấy tay mua bán đất, có nhiều người chứng kiến. Ông H đã giao đủ 14 chỉ vàng 24k và nhận đất sử dụng cất nhà ở từ năm 2000 đến Nay.
Trước đây, ông H nhiều lần liên hệ yêu cầu hộ ông N thực hiện việc sang tên, tách giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng ông N cứ hứa hẹn lần lựa mãi mà không thực hiện.
Cho nên ông H có đơn khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông Nguyễn Văn N, bà Đoàn Thị L cùng các con phải có trách nhiệm thực hiện hợp đồng chuyển nhượng cho ông H diện tích đất đang sử dụng theo như đo đạc thực tế là 608,2m2, loại đất CLN, tại thửa 245.
Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn N, Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng ông N không đến Tòa để tham gia giải quyết vụ án. Tòa án cũng đã nhiều lần trực tiếp đến địa phương để làm việc nhưng cũng không gặp được ông N cho nên không tiến hành thu thập được lời khai của ông N. Theo bà Đoàn Thị L (vợ ông N) cho biết: do ông N thường đi làm công tác từ thiện nên không có mặt tại nhà.
Đối với bị đơn bà Đoàn Thị L và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Ngọc H, chị Nguyễn Thị C, chị Nguyễn Thị Kim N thống nhất trình bày như sau:
Vào tháng 5 năm 2000, vợ chồng ông N, bà L cùng các con có thỏa thuận đồng ý chuyển nhượng cho ông H một phần diện tích đất tại thửa 245 với giá 14 chỉ vàng 24k như ông H trình bày là đúng. Ông H đã giao đủ vàng và nhận đất sử dụng từ năm 2000 cho đến nay.
Nay qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, hộ ông N đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng cho ông H diện tích đất theo như đo đạc thực tế tại thửa 245 là 608,2m2, loại đất CLN nhưng yêu cầu phải đợi giải quyết xong vụ án tranh chấp giữa hộ ông N với ông Nguyễn Minh N1 xong rồi mới làm thủ tục tách giấy cho ông H.
Ngoài ra, bà L cho rằng bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các thửa đất nói trên, vợ chồng bà đã thế chấp cho một người khác bên Ngoài để vay tiền Nhưng bà L không đồng ý cung cấp thông tin, họ tên, địa chỉ của người nhận thế chấp đó.
Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Nguyễn Ngọc G, Nguyễn Ngọc S theo bị đơn cung cấp đã đi làm ở thành phố M. Đối với Nguyễn Thị Bích T có chồng ở huyện LM, tỉnh HG nhưng phía bị đơn không cung cấp được địa chỉ cụ thể. Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng anh G, anh S và chị T vẫn vắng mặt.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã phân tích, giải thích pháp luật, động viên hòa giải và cho thời hạn 30 ngày để các bên thực hiện hợp đồng nhưng các đương sự không thỏa thuận được với nhau, do đó vụ án được đưa ra xét xử công khai.
Tại phiên tòa hôm nay: Nguyên đơn ông H vẫn giữ nguyên ý kiến và yêu cầu như đã trình bày. Ông H xác định đồng ý với kết quả đo đạc thực tế theo như “Bản trích đo địa chính” số 76/TTKTTNMT do Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố T lập ngày 30.10.2017, không có yêu cầu đo đạc lại.
Bị đơn ông N và các con vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, trong đó ông N có đơn xin tạm hoãn phiên tòa với lý do bị bệnh nhưng ông N không cung cấp được bản chính các giấy tờ có liên quan và xác nhận của bệnh viện.
Vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay. Đồng thời phát biểu quan điểm giải quyết vụ án Như sau: Đối với lý do bị đơn đưa ra yêu cầu phải đợi giải quyết xong vụ án với ông N1 là không có cơ sở chấp nhận. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc vợ chồng ông N, bà L và những người trong hộ phải có trách nhiệm thực hiện hợp đồng chuyển Nhượng quyền sử dụng đất cho ông H theo như kết quả đo đạc thực tế tại thửa 245 là 608,2m2, loại đất CLN.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Xét mối quan hệ pháp luật đây là vụ kiện tranh chấp hợp đồng dân sự về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, căn cứ Điều Điều 697 Bộ luật dân sự 2005, Điều 203 Luật đất đai 2013 và các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án.
Xét việc bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, trong đó bà L, chị C và chị N yêu cầu xét xử vắng mặt. Đối với ông N có đơn xin tạm hoãn phiên tòa với lý do bị bệnh nhưng ông N không cung cấp được bản chính các giấy tờ có liên quan và xác nhận của bệnh viện nên chưa đủ cơ sở chấp nhận. Căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng tiến hành xét xử vắng mặt họ là phù hợp.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Theo các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và qua các bản tự khai, biên bản ghi lời khai đương sự, các đương sự thống nhất xác định: Vào ngày 27.5.2000, vợ chồng ông Nguyễn Văn N, bà Đoàn Thị L cùng các con có thỏa thuận chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn H diện tích đất theo như đo đạc thực tế là 608,2m2, loại đất CLN, tại thửa 245, thuộc tờ bản đồ số 04, đất tọa lạc tại khu vực TA, phường TH, quận TN, do hộ ông Nguyễn Văn N đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000058, cấp ngày 19.8.1997, với giá chuyển nhượng là 14 chỉ vàng 24k, hai bên có làm “Giấy mua bán đất” lập ngày 27.5.2000. Ông H đã giao đủ 14 chỉ vàng 24k và nhận đất sử dụng cất nhà ở từ năm 2000 đến nay nhưng chưa làm thủ tục sang tên, tách giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay ý kiến của phía bị đơn và các con cũng đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng cho ông H cho nên xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
Tuy nhiên, phía bị đơn ông N, bà L cho rằng phải đợi giải quyết xong vụ án tranh chấp giữa ông N và ông N1 (vụ án tranh chấp khác mà Tòa án Nhân dân quận TN đang thụ lý, giải quyết). Hội đồng xét xử xét thấy: theo thông báo thụ lý số 92/TB-TLVA ngày 07.7.2015 của Tòa án Nhân dân quận TN thì ông N1 tranh chấp với ông N tại thửa đất 791 và theo kết quả xem xét, thẩm định tại chổ ngày 06.7.2017 thì phần đất tranh chấp tại thửa 245 không có liên quan gì đến phần đất tranh chấp giữa ông N1 và ông N tại thửa 791. Cho nên lý do bị đơn nêu ra là chưa đủ cơ sở chấp nhận.
Đối với việc bà L cho rằng có thế chấp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000058, cấp ngày 19.8.1997 do ông N đứng tên cho một người khác bên ngoài để vay tiền. Tòa án đã nhiều lần yêu cầu và cho thời hạn để bà L cung cấp thông tin, họ tên, địa chỉ của người nhận thế chấp đó để đưa vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nhưng do bà L không đồng ý cung cấp cho nên Tòa án không thể xem xét, giải quyết được. Nếu sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết thành vụ kiện khác khi có yêu cầu.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử nghĩ nên công nhận hợp đồng chuyển Nhượng quyền sử dụng đất giữa ông N, bà L với ông H lập ngày 27.5.2000. Do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông N đứng tên đang thế chấp cho người khác nên kiến Nghị Ủy ban Nhân dân quận TN thu hồi để cấp lại một phần cho ông H như trên là phù hợp.
Về chi phí đo đạc, định giá: Theo yêu cầu của đương sự, Tòa án đã thành lập Hội đồng để thẩm định, định giá tài sản tranh chấp với tổng chi phí hết 4.500.000đồng, phía nguyên đơn ông H đã tạm nộp trước. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, căn cứ theo Điều 157, 165 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn ông N, bà L phải chịu toàn bộ chi phí. Do đó ông N, bà L phải có trách nhiệm nộp số tiền 4.500.000đồng để giao trả lại cho ông H.
Về án phí sơ thẩm dân sự: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải nộp án phí theo quy định. Xét trường hợp này nguyên đơn yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, theo quy định tại khoản 3 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 bị đơn phải chịu án phí không giá ngạch. Nguyên đơn được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Xét lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở.
Vì"các"lẽ"trên,"
QUYẾT!ĐỊNH!
Căn cứ vào:
- Các Điều 26, 35, 39, 91, 147, 157, 165, 227, 228 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Các Điều 697, 699 của Bộ luật dân sự 2005;
- Các Điều 166, 170 và 203 Luật đất đai năm 2013;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016.
Tuyên!xử:!!
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Công nhận ông Nguyễn Văn H được quyền sử dụng diện tích đất 608,2m2, loại đất CLN, tại thửa 245 (ký hiệu là thửa 2454 và 2455), thuộc tờ bản đồ số 04, đất tọa lạc tại khu vực TA, phường TH, quận TN, do hộ ông Nguyễn Văn N đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000058, cấp ngày 19.8.1997.
Vị trí, kích thước, diện tích đất cụ thể được xác định căn cứ theo “Bản trích đo địa chính” số 76/TTKTTNMT do Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố T lập ngày 30.10.2017.
Kiến Nghị Ủy ban Nhân dân quận TN thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000058, cấp ngày 19.8.1997 do hộ ông Nguyễn Văn N đứng tên để điều chỉnh cấp lại một phần cho ông Nguyễn Văn H như trên.
Các đương sự phải có trách nhiệm liên hệ với cơ quan chức năng có thẩm quyền để làm thủ tục chuyển Nhượng quyền sử dụng đất cho ông H và phải hoàn thành nghĩa vụ tài chính về đất theo quy định. Chi phí làm thủ tục chuyển Nhượng cho ông H do ông H chịu.
Về chi phí đo đạc, định giá: Ông Nguyễn Văn N và bà Đoàn Thị L phải có trách nhiệm nộp số tiền 4.500.000đồng (Bốn"triệu"năm"trăm"ngàn"đồng)" để giao trả lại cho ông Nguyễn Văn H .
Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn N và bà Đoàn Thị L phải nộp số tiền 300.000đồng (Ba"trăm"ngàn"đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự quận TN.
Ông Nguyễn Văn H được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng (Ba"trăm"ngàn"đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2013/002182 ngày 23.5.2017.
Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với các đương sự vắng mặt, thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi!nhận:!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM!
- TAND TP. T;
THẨM!PHÁN!–!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA
- VKSND Q. TN;
- Chi cục THA Q. TN;! !
- Các đương sự;!
- Lưu hồ sơ.
!
!!!!!!NGUYỄN!TRUNG!HIẾU!!