vanban.org

Bản án 06/2017/KDTM-PT — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND tỉnh Nam Định Tuyên án 31/08/2017 Kinh doanh thương mại Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 31/08/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của anh Lê Minh T và chi ̣ Nguyễn Thi ̣ G, giữ nguyên án sơ thẩm quyết đi ̣nh về hợp đồng thế chấp , kê biên, niêm phong, đòi bồi thườ ng và bán đấu giá tài sản.

Bác đơn khởi kiện của anh Lê Minh T yêu cầu tuyên bố hợp đồng thế chấp số DN2012-01a/HĐTC ngày 07/02/2012 giữa Ngân hàng N - Chi nhánh C, Nam Định với anh Lê Minh T và chị Nguyễn Thị G là vô hiệu và không chấp nhận yêu cầu hủy bỏ việc kê biên, niêm phong và kết quả bán đấu giá tài sản… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "tranh chấp hợp đồng thế chấp và xử lý tài sản thế chấp giữa anh Lê Minh T với Ngân hàng H"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của anh Lê Minh T và chi ̣ Nguyễn Thi ̣ G, giữ nguyên án sơ thẩm quyết đi ̣nh về hợp đồng thế chấp , kê biên, niêm phong, đòi bồi thườ ng và bán đấu giá tài sản.
  • Căn cứ chính? Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án; Điều 127 Bộ luật Dân sự; Điều 128 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2017/KDTM-PT.
Ngày: 31-8-2017
“V/v tranh chấp hợp đồng thế chấp
và xử lý tài sản thế chấp”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Vũ Thị Thu.

Các thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết

Ông Pha ̣m Tiến Dũng

- Thư ký phiên toà: Ông Lã Ngọc Tiền - Thư ký TAND tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa:

Bà Lưu Thi ̣ Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 04/2017/TLPT- KDTM ngày 14 tháng 7 năm 2017 về tranh chấp hợp đồng thế chấp và xử lý tài sản thế chấp.

Do bản án kinh doanh thương ma ̣i sơ thẩm số 01/2017/KDTM - ST ngày 23/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định bi ̣ kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 07/2017/QĐ-PT ngày 07 tháng 8 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lê Minh T; trú tại: Xóm X, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.

Ngườ i bảo vê ̣ quyền và lợi ich hợp phá p của nguyên đơn:

́

Ông Mai Văn L, Luâ ̣t sư - Văn phòng luâ ̣t sư T, thuô ̣c Đoàn Luâ ̣t sư thành phố Hà Nô ̣i.

- Bị đơn: Ngân hàng N.

Ngườ i đa ̣i diê ̣n theo phá p luâ ̣t: Ông Tri ̣nh Ngo ̣c K - chứ c vu ̣: Chủ tịch hội đồng thành viên - Ngân hàng N.

Ngườ i đa ̣i diê ̣n theo ủy quyền : Ông Lê Nam T; chứ c vu ̣: Giám đốc Ngân hàng N, Chi nhánh C, Nam Đi ̣nh; địa chỉ: Tổ dân phố 4B, thị trấn C, huyê ̣n H, tỉnh Nam Định theo văn bản ủy quyền ngày 19/6/2014.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Chu Tuấn H - Luâ ̣t sư - Văn phòng Luật sư T - Đoàn Luật sư tỉnh Nam Định.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Nguyễn Thị G; trú tại: Xóm X, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.

2. Anh Nguyễn Văn Đ; trú tại: Xóm H, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.

3. Uỷ ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định

Ngươi đại diê ̣n theo phap luật: Ông Bùi Xuân C; chưc vu ̣: Chủ tịch Ủ y ban

̀

́

́ nhân dân xa H, huyê ̣̃

n H, tỉnh Nam Định.

4. Trung tâm D - Sở Tư pháp tỉnh Nam Định.

Ngườ i đại diê ̣n theo phá p luật : Ông Lê Anh T; chứ c vu ̣: Giám đốc Trung tâm D.

Ngườ i đại diê ̣n theo ủy quyền : Ông Pha ̣m Ngo ̣c K ; chứ c vu ̣: Phó giám đốc Trung tâm D theo văn bản ủy quyền ngày 30/8/2017.

- Ngườ i khá ng cá o: Nguyên đơn: Anh Lê Minh T. Ngườ i có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Nguyễn Thị G.

Tại phiên tòa phúc thẩm : Anh T, chị G, ông T, ông H, ông L, ông K có mă ̣t. Vắng mă ̣t ông C, ông Đ.

NỘI DUNG VỤ Á N:

Theo đơn khởi kiện và quá trinh tố tu ̣ng ta ̣i Tòa án nguyên đơn là anh Lê

̀

Minh T trình bày:

Công ty cổ phần dịch vụ thương mại T (sau đây viết tắt là Công ty T) được thành lập năm 2008 do anh là giám đốc. Ngày 01/02/2013 Công ty ký hợp đồng tín dụng số 3209-LAV-200901185 vay 3 tỷ đồng của Ngân hàng N - Chi nhánh C, Nam Định (sau đây viết tắt là Ngân hàng), thời hạn cho vay 12 tháng. Ngày 07/02/2012 anh và vợ là Nguyễn Thị G ký hợp đồng thế chấp số DN2012-01a/HĐTC bảo đảm cho khoản tiền vay 3 tỷ đồng của Công ty T. Tài sản thế chấp gồm: Cửa hàng xây kiên cố 600m2 trên thửa đất số 16, tờ bản đồ số 14 diện tích 320m2, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 273796; Thửa đất số 15, tờ bản đồ số 14 diện tích 325m2 có địa chỉ ở xóm X, xã H, huyện H đứng tên quyền sử dụng anh và chị G.

Do Công ty T làm ăn không có hiệu quả, đến hạn không có khả năng trả nợ, Ngân hàng đa nhiều lần tạo điều kiện cho vợ chồng anh tự bán tài sản nhà̃ đất đã thế chấp để trả nợ, nhưng chưa tìm được đối tác mua và nhà đất chưa được giá nên vợ chồng anh xin Ngân hàng tìm người mua giúp. Vì không trả được nợ đến ngày 11/11/2014 Ngân hàng niêm phong nhà và toàn bộ quyền sử dụng đất của vợ chồng anh đã thế chấp.

Vợ chồng khó khăn chưa có chỗ ở và công việc làm ăn buôn bán cần thiết nên ngày 02/12/2014, vợ chồng anh làm tạm lán khung sắt lợp tôn trước cửa hàng mà Ngân hàng niêm phong để ở và kinh doanh từ đó cho đến nay. Khi Ngân hàng niêm phong tài sản, vợ chồng anh có mặt, anh có viết giao tài sản thế chấp cho Tòa án nghĩa là muốn được giải quyết tranh chấp này tại Tòa án. Đến ngày 02/11/2015, vợ chồng anh mới được Ngân hàng thông báo tài sản niêm phong của vợ chồng anh đã bị bán đấu giá, cho người mua là anh Nguyễn Văn Đ. Khi được thông báo, anh thấy tài sản thế chấp, vừa làm cửa hàng kinh doanh vừa làm chỗ ở của gia đình, nên Ngân hàng niêm phong, kê biên, bán đấu giá tài sản là vi phạm về chỗ ở, làm ngưng đọng việc kinh doanh gây thiệt hại về kinh tế của gia đình anh.

Anh xác nhận chữ ký trong h

ợp đồng thế chấp tài sản số DN2012-01a/HĐTC ngày 07/02/2012 là chữ ký của vợ chồng anh, nhưng hợp đồng làm không đúng quy định pháp luật vì hợp đồng thế chấp tài sản do Ngân hàng soạn thảo và ký tên tại Ngân hàng rồi một mình anh đem đến Uỷ ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND ) xã H xin đăng ký chứng thực. Như vậy, hợp đồng thế chấp không có mặt 3 bên đăng ký chứng thực tại UBND xã H theo quy định và hợp đồng không đóng dấu giáp lai là vi phạm thủ tục hợp đồng thế chấp. Anh đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng thế chấp số DN2012-01a/HĐTC ngày 07/02/2012 giữa vợ chồng anh với Ngân hàng là vô hiệu và hủy bỏ việc niêm phong, kê biên và kết quả bán đấu giá tài sản. Buộc Ngân hàng phải bồi thường thiệt hại cho gia đình anh do niêm phong tài sản không đúng từ ngày 11/11/2014 cho đến khi tháo rỡ niêm phong trả lại tài sản, mỗi tháng 10.000.000đ. Vì lúc Ngân hàng niêm phong tài sản thế chấp, Công ty T vẫn đang hoạt động buôn bán bình thường.

Anh không chấp nhận yêu cầu phản tố của Ngân hàng về việc buộc vợ chồng anh tháo rỡ lán dại làm trên tài sản Ngân hàng đang thu giữ, niêm phong. Vợ chồng anh công nhận phải có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng, nhưng Ngân hàng bán đấu giá tài sản thế chấp quá thấp, so với giá thực tế chuyển nhượng nhà đất tại địa phương làm thiệt hại đến kinh tế của gia đình anh. Vì vậy, anh yêu cầu định giá lại tài sản, vì không định giá được nên anh có văn bản xác định giá trị tài sản thế chấp nộp cho Tòa án.

Tại đơn phản tố và quá trình tố tụng ta ̣i Tòa án bị đơn là Ngân hàng N - Chi nhánh C, Nam Đi ̣nh trình bày:

Hợp đồng thế chấp số DN2012-01a/HĐTC ngày 07/02/2012 ký kết giữa vợ chồng anh T chị G với Ngân hàng được thực hiện theo đúng thủ tục quy định của pháp luật . Ngân hàng làm thủ tục niêm phong tài sản nhà đất thế chấp của anh T chị G đúng theo quy định của pháp luật, khi đó Công ty T đã ngừng hoạt động trước đó mấy tháng, thể hiện ở các đơn trình bày của anh T là giám đốc Công ty và các biên bản làm việc của Ngân hàng. Trước khi niêm phong tài sản, Ngân hàng đã tạo điều kiện rất nhiều lần cho anh T chị G tự bán tài sản, anh T chị G cam kết nhưng không thực hiện, nên Ngân hàng mới thực hiện các thủ tục kê biên, niêm phong, bán đấu giá tài sản để thu hồi nợ. Quá trình bán đấu giá, do cơ quan bán đấu giá không bán được nhiều lần phải thông báo hạ giá và thông báo nhiều lần trên phương tiện thông tin đa ̣i chúng rồi mới bán cho người mua là anh Nguyễn Văn Đ. Sau khi bán đấu giá tài sản cho đến nay, Ngân hàng chưa bàn giao tài sản được cho người mua vì anh T chị G làm lán dại trái phép trước nhà đất bán đấu giá.

Ngân hàng không chấp nhận giá mà anh T chị G tự xác định vì Ngân hàng bán tài sản thế chấp thông qua Trung tâm D – Sở tư pháp tinh Nam Đi ̣̉

nh khi bán đấu giá tài sản phải 9 lần thông báo công khai mới bán được tài sản thành công, giá khở i điểm do Ngân hàng với vợ chồng anh T chị G thỏa thuận xác định khi thế chấp và kê biên, niêm phong. Hơn nữa, sau khi bán đấu giá tài sản xong người mua tài sản nộp tiền thì anh T mới có đơn khởi kiện. Ngân hàng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu phản tố của Ngân hàng buộc anh T chị G phải rỡ bỏ lán dại làm trái phép trên đất phía trước nhà đất mà Ngân hàng đã niêm phong bán đấu giá tài sản.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:

* Tại bản tự khai và quá trình tố tụng tại Tòa án chị Nguyễn Thị G trình bày: Chị nhất trí với yêu cầu khởi kiện của anh Lê Minh T là chồng chị, đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng thế chấp số DN2012-01a/HĐTC ngày 07/02/2012 giữa vợ chồng chị với Ngân hàng là vô hiệu và hủy bỏ việc niêm phong, kê biên và kết quả bán đấu giá tài sản nhà đất mà vợ chồng chi ̣ đã ký thế chấp cho Ngân hàng. Buộc Ngân hàng phải bồi thường thiệt hại cho gia đình chị do niêm phong tài sản không đúng từ ngày 11/11/2014 cho đến khi tháo rỡ niêm phong trả lại tài sản, mỗi tháng 10.000.000đ. Chị không chấp nhận yêu cầu phản tố của Ngân hàng về việc buộc vợ chồng chị tháo rỡ lán dại nằm trong tài sản Ngân hàng thu giữ, niêm phong đã bán đấu giá tài sản.

* Tại bản tự khai ngày 22/12/2015 anh Nguyễn Văn Đ trình bày: Anh nghe đài phát thanh của xã H thông báo bán đấu giá nhà đất của gia đình anh Lê Minh T, tại Trung tâm D - Sở Tư pháp tỉnh Nam Định, anh đã đấu giá thành công với giá 3.195.000.000đ. Theo biên bản bán đấu giá tài sản, sau 5 ngày làm việc kể từ ngày người mua trả đủ tiền, Ngân hàng có trách nhiệm hoàn thành việc giao nhận tài sản, đến nay Ngân hàng vẫn chưa bàn giao tài sản mua đấu giá cho anh và các giấy tờ hồ sơ liên quan đến tài sản. Còn việc tranh chấp giữa gia đình anh T với Ngân hàng thì anh không có ý kiến gì do Tòa án giải quyết theo pháp luật.

* Tại công văn ngày 31/3/2016 Uỷ ban nhân dân xã H trình bày: Việc ông Nguyễn Hồng C nguyên Chủ tịch UBND xã H ký chứng thực hợp đồng thế chấp và ông Nguyễn Quốc M là cán bộ địa chính xã H ký đăng ký hợp đồng thế chấp bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 07/02/2012, giữa bên thế chấp là vợ chồng anh T chị G với bên nhận thế chấp là Ngân hàng. Qua xem xét thủ tục chứng thực và ký chứng nhận đăng ký thế chấp, mà đại diện UBND xã H đã thực hiện là đảm bảo đúng thủ tục quy định pháp luật. Còn việc tranh chấp giữa các bên do Tòa án giải quyết theo pháp luật, UBND xã H không có liên quan nên không ý kiến gì.

* Tại Công văn số 48 ngày 13/6/2016 và quá trình tố tụng ta ̣i Tòa án Trung tâm D - Sở tư pháp tỉnh Nam Định trình bày:

Ngày 20/01/2015 Trung tâm D có ký hợp đồng số 01/2015/HĐBĐG với Ngân hàng về viê ̣c bán đấu giá tài sản. Tài sản bán đấu giá là toàn bộ tài sản thế chấp của hộ anh Lê Minh T và chị Nguyễn Thị G đã thế chấp cho Ngân hàng, do quá hạn anh T chị G không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Theo hợp đồng, Ngân hàng cam kết chịu trách nhiệm về nguồn gốc, tính hợp pháp của tài sản ủy quyền bán đấu giá. Trung tâm D đã thực hiện bán đấu giá theo đúng trình tự thủ tục quy định của pháp luật như: Khảo sát tài sản, thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng, niêm yết thông báo tại Trung tâm, tại trụ sở Ngân hàng và tại địa phương nơi có tài sản bán đấu giá. Ngày 30/9/2015 vào hồi 09 giờ Trung tâm tổ chức công khai cuộc bán đấu giá tài sản trên theo đúng quy định của pháp luật. Người mua đấu giá thành công là anh Nguyễn Văn Đ với giá mua 3.195.000.000đ. Trung tâm đã lập biên bản bán đấu giá tài sản số 21/2015/BĐG và hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá số 21/2015/HĐMB có đầy đủ chữ ký của các bên và chứng nhận của công chứng viên theo đúng quy định của pháp luật. Ngày 30/9/2015, Trung tâm D và Ngân hàng lập biên bản thanh lý hợp đồng bán đấu giá số 01/2015/HĐBĐG ngày 20/01/2015. Tất cả các tài liệu liên quan đến bán đấu giá tài sản, Trung tâm đã chuyển cho Ngân hàng lưu giữ, nên không còn liên quan, trách nhiệm tài sản thuộc về phía Ngân hàng.

Luật sư Mai Văn L là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho anh Lê Minh T trình bày: Nhất trí với yêu cầu của anh T và trình bày Ngân hàng không được kê biên, bán đấu giá tài sản của gia đình anh T chị G vì tài sản đó vừa là nơi kinh doanh bán hàng, vừa là nơi ở của cả gia đình anh T chị G. Khi kê biên niêm phong tài sản anh T có ý kiến đề nghị giao tài sản cho Tòa án, nghĩa là anh T có nguyện vọng giải quyết tranh chấp tại Tòa án. Như vậy, Ngân hàng phải có trách nhiệm khởi kiện đến Tòa án giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của anh T và không chấp nhận yêu cầu phản tố của Ngân hàng.

Luật sư Chu Tuấn H là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho Ngân hàng trình bày: Nhất trí với ý kiến và yêu cầu phản tố của Ngân hàng, đề nghị Tòa án bác các yêu cầu khởi kiện của anh T và chấp nhận yêu cầu phản tố của Ngân hàng, buộc anh T chị G tháo rỡ lán dại làm trên tài sản Ngân hàng đã thu giữ, niêm phong và đa bán đấu giá. Vì trước khi kê biên niêm phong bán đấu giá̃ tài sản thế chấp, Ngân hàng đã tạo điều kiện rất nhiều lần cho anh T chị G tự bán tài sản trả nợ, nhưng không thực hiện và anh T chị G còn nhiều tài sản nhà đất khác hiện đang thế chấp bảo lãnh tại Ngân hàng, chứ không phải chỉ có chỗ bán hàng là chỗ ở duy nhất của anh T chị G. Vì vậy, Ngân hàng mới thực hiện việc kê biên, niêm phong, bán đấu giá tài sản thế chấp thu nợ theo đúng quy định của pháp luật.

Tại bản án kinh doanh thương mại số 01/2017/KDTM-ST ngày 23/5/2017 của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu , tỉnh Nam Định đa quyết đi ̣̃

nh. Căn cứ vào Điều 299,300, 301, 303, 304, 317, 318, 319,320, 321, 322,323 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Pháp lệnh số 10/2009/PL-UBTVQH12 ngày 27 tháng 02 năm 2009 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

1. Bác đơn khởi kiện của anh Lê Minh T yêu cầu tuyên bố hợp đồng thế chấp số DN2012-01a/HĐTC ngày 07/02/2012 giữa Ngân hàng N - Chi nhánh C, Nam Định với vợ chồng anh Lê Minh T chị Nguyễn Thị G là vô hiệu và không chấp nhận yêu cầu hủy bỏ việc niêm phong, kê biên và kết quả bán đấu giá tài sản theo hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá số 21/2015/HĐMB ngày 30/9/2015 giữa Trung tâm D - Sở tư pháp tỉnh Nam Định với anh Nguyễn Văn Đ đối với nhà đất mà vợ chồng anh T chị G đã ký hợp đồng thế chấp số DN2012-01a/HĐTC ngày 07/02/2012 giữa Ngân hàng N - Chi nhánh C, Nam Định với vợ chồng anh T chị G.

2. Bác yêu cầu của anh Lê Minh T về viê ̣c đòi Ngân hàng N - Chi nhánh C, Nam Định phải bồi thường thiệt hại do niêm phong tài sản thế chấp không đúng cho anh T chị G là 10.000.000đ (mười triệu đồng)/tháng kể từ ngày 11/11/2014 đến ngày 23/5/2017 là 30 tháng 12 ngày với số tiền 304.000.000đ (ba trăm linh bốn triệu đồng).

3. Chấp nhận yêu cầu phản tố của Ngân hàng N - Chi nhánh C, Nam Định. Buộc anh T chị G phải rỡ bỏ toàn bộ phần lán dại lợp tôn làm phía trước nhà liền sát hành lang Quốc lộ 21 trên phần tài sản thế chấp mà Ngân hàng Nô - Chi nhánh C, Nam Định đã niêm phong, bán đấu giá thành công cho anh Nguyễn Văn Đ, có chiều dài Nam Bắc 21,2m; chiều rộng Đông Tây ở đầu phía Bắc 2,4m, ở đầu phía Nam 2,3m, để Ngân hàng N - Chi nhánh C, Nam Định bàn giao tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá là anh Nguyễn Văn Đ.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo của các đương sự , án phí, biê ̣n pháp thi hành án.

Ngày 05/6/2007 anh Lê Minh T và chi ̣ Nguyễn Thi ̣ G kháng cáo đều yêu cầu cấp phúc thẩm giải quyết những viê ̣c sau đây:

Thẩm đi ̣nh và xác đi ̣nh rõ chỗ ở của gia đinh anh T chi ̣ G khi kê biên tài

̀ sản và từ đó đến nay.

Đề nghi ̣ Tòa án thẩm đi ̣nh tại chỗ, để làm rõ những tài sản nào là tài sản thế chấp, tài sản nào chưa đượ c thế chấp ; Yêu cầu Ngân hàn g thống kê rõ đa đi ̣̃ nh giá những tài sản nào để bán.

Triê ̣u tâ ̣p ông Nguyễn Hồng C nguyên chủ ti ̣ch xa H , ngưỡ

̀ i ký chứ ng thực đến phiên tòa để khai báo để đối thoa ̣i, trong trườ ng hợp ông C cố ý lẩn tránh thi

̀ đề nghị Tòa án ra lệnh áp giải.

Hủy bản án sơ thẩm số 01/2017/KDTM-ST ngày 23/5/2017 của Tòa án nhân dân huyê ̣n Hải Hậu để xét xử lại theo Điều 310 BLTTDS năm 2015.

Tại phiên tòa phúc thẩm : Anh T giữ nguyên yêu cầu khở i kiê ̣n . Anh T và chị G nhất tri vớ i lờ i trinh bày của Luâ ̣t sư bảo vệ quyền , lợi ích hợp pháp cho

́

̀ anh T.

Luâ ̣t sư bảo vệ quyền và lợi í ch hợp pháp của anh T trình bày: Hợp đồng thế chấp do Ngân hàng soa ̣n thảo là chủ thể cho vay có nhiều quyền hơn đa vĩ phạm nguyên tắc bình đẳng quy định tại Điều 5 của Bộ luật dân sự năm 2005. Hợp đồng thế chấp được ký tại Ngân hàng, sau đó anh T mang đến UBND xa H̃ đăng ký chứ ng thực , như vâ ̣y, hợp đồng thế chấp không có mă ̣t 3 bên đăng ký chứ ng thực tại UBND xã, không đánh số trang, không đóng dấu giáp lai , không ký nháy cuối mỗi trang . Phần lời chứng ch ỉ chứng thực ông Lê Minh T . Theo hợp đồng thế chấp ghi bên n hận thế chấp là Ngân hàng C đây là d oanh nghiê ̣p đô ̣c lâ ̣p, khác với Ngân hàng N, Chi nhánh C , Nam Đi ̣nh vi tại cùng một thời

̀ điểm mô ̣t doanh nghiê ̣p không đượ c phép có hai tên gi ao di ̣ch. Do vâ ̣y, chủ thể trong hợp đồng thế chấp không phải là Ngân hàng N, Chi nhánh C, Nam Đi ̣nh. Căn cứ Điều 127, khoản 1 Điều 128 BLDS năm 2005 hợp đồng thế chấp vô hiê ̣u.

Tài sản bảo đảm là sở hữu chung của anh Ta chị G , khi kê biên vợ chồng anh T chị G ở đó, nhưng chị G không ký vào biên bản. Khi kê biên, niêm phong tài sản có mặt Chủ tịch UBND xã H là thành viên chỉ đạo vay vốn v à nhiều cán bô ̣ xa H tham gia, anh Mai Văn N là Kiểm sã

́t viên huyê ̣n H cũng có mặt nhưng lại tham gia tố tụng giải quyết vụ án, tại thời điểm kê biên, niêm phong tài sản là nơi ở của gia đình anh T chị G. Đề nghi ̣ hủy viê ̣c kê biên, niêm phong, trả lại tài sản và bồi thườ ng thiê ̣t ha ̣i cho anh T, chị G.

Anh T chị G chỉ thế chấp 625m2 đất được cấp sổ đỏ nhưng đo đa ̣c thực tế là 731m2 có ghi chú 100m2 đất Ủy ban, đất thế chấp và đất Ủy ban có khác nhau. Trung tâm bán đấu giá không xem xét tài sản nào là tài sản thế chấp, tài sản nào không thế chấp mà bán đấu giá trên giấy tờ do Ngân hàng cung cấp và không đi ̣nh giá tài sản thế chấp. Do hợp đồng thế chấp vô hiê ̣u nên đề nghị hủy kết quả bán đấu giá. Vì vậy, đề nghị Hô ̣i đồng xét xử hủy án sơ thẩm.

Luâ ̣t sư bảo vê ̣ quyền và lợi ich c ủa Ngân hàng trình bày: Hợp đồ ng thế

́

chấp đa đượ̃

c anh T chi ̣ G tự nguyê ̣n ký không bị ép buộc, khi ký có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và được chứ ng thực , hợp đồng đa đõ ́ng dấu giáp lai thể hiê ̣n tại biên bản thẩm định tại chỗ tại Ngân hàng sau đó con dấu đã thu hồi thay dấu khác. Nên hợp đồng thế chấp có hiê ̣u lực pháp luâ ̣t.

Ngân hàng đã tạo điều kiện cho anh T chị G nhiều lần bán nhà đất thế chấp trả nợ n hưng không thực hiê ̣n . Anh T có ghi vào biên bản kê biên giao tài sản cho Tò a án nhưng anh T chi ̣ G không khở i kiê ̣n , sau đó anh T đồng ý niêm phong và ký vào biên bản đi ̣nh giá tài sản khở i điểm để bán đấu giá . Vì vậy, không có căn cứ hủy viê ̣c kê biên, niêm phong tài sản.

Viê ̣c bán đấu giá tài sản thế chấp thông qua Trung tâm D thuô ̣c Sở tư pháp tỉnh Nam Định, tài sản bán đấu giá đến lần thứ 9 mớ i thành công trinh tự thủ tu ̣c

̀ các lần bán đấu giá tài sản đều tuân thủ quy định của pháp luật , các lần hạ giá đều thông báo trê n đài phát thanh xa H . Anh T đã

thỗ

́ng nhất giá khở i điểm về bán tài sản thế chấp. Vì vậy, không có căn cứ hủy kết quả bán đấu giá.

Ông T trình bày: Căn cứ kết quả thẩm đi ̣nh ta ̣i chỗ ta ̣i Ngân hàng do yêu

cầu của nguyên đơn thể hiê ̣n hợp đồng thế chấp được ký kết giữa Ngân hàng và anh T chi ̣ G lưu ta ̣i Ngân hàng có đóng dấu giáp lai. Theo Điều 6 Hợp đồng thế chấp thi bên A (Ngân hàng) không chi ̣u bất cứ ng hĩa vụ, trách nhiệm nào liên

̀ quan đến uy tin , nơi ở, điều kiê ̣n sinh hoa ̣t của bên B (anh T chi ̣ G ). Ngày

́ 27/10/2014 anh T có đơn trình bày do Công ty T làm ăn thua lỗ nên năm 2014 đa ngữ

̀ ng hoa ̣t đô ̣ng. Vì vậy, không nhất tri vớ i lờ i trinh bày của Luâ ̣t sư bảo vê ̣

́

̀ quyền và lợi ich của anh T.

́

Ông K trình bày: Viê ̣c ký hợp đồng bán đấu giá tài sản vớ i Ngân hàng cũng như viê ̣c bán đấu giá tài sản tại Trung tâm D đa tiến hã

̀nh các trình tự thủ tục theo đúng quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t nên không chấp nhâ ̣n lờ i trinh bày của L uâ ̣t sư

̀ bảo vệ quyền và lợi ich của anh T.

́

Kiểm sát viên - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân theo các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, các đương sự chấp hành đúng các quy định pháp luật tố tụng dân sự quyền lợi của các đương sự được bảo đảm. Về tố tu ̣ng cấp sơ thẩm xác đi ̣nh các tr anh chấp mà nguyên đơn khở i kiê ̣n và bi ̣ đơn phản tố thuô ̣c loa ̣i án kinh doanh thương ma ̣i là không đúng mà thuô ̣c loa ̣i án án dân sự, xác định Ngân hàng N, Chi nhánh C, Nam Đi ̣nh là bị đơn là không đúng, tuy nhiên viê ̣c xác đi ̣nh sai tư cách tố tu ̣ng đa đượ̃

c khắc phu ̣c ta ̣i cấp phúc thẩm nên cần kiến nghi ̣ vi pha ̣m đối vớ i cấp sơ thẩm. Viê ̣c ông Mai Văn N là Kiểm sát viên sơ cấp Viê ̣n kiểm sát nhân dân huyê ̣n Hải Hâ ̣u tham gia viê ̣c kê biên tài sản lại tham gia phiên tòa nhưng không thuô ̣c trườ ng hợp phải từ chối quy đi ̣nh ta ̣i Điều 52 BLTTDS nên không có căn cứ để hủy án sơ thẩm.

Về đườ ng lố i giải quyết vu ̣ án : Anh T chi ̣ G ký hợp đồng thế chấp số

DN2012-01a/HĐTC ngày 07/02/2012 vớ i Ngân hàng trên cơ sở tự nguyê ̣n trong tình trạng sức khỏe bình thường, hợp đồng có đầy đủ các điều kh oản, có chữ ký của anh T chị G có đóng dấu giáp lai và được lập theo đúng quy định của pháp luâ ̣t nên có hiê ̣u lực . Công ty T không trả được nợ đến ha ̣n , Ngân hàng đa ta ̣̃ o điều kiê ̣n cho bên thế chấp là anh T chi ̣ G tự bán tài sản để thanh toán nợ nhưng không thực hiê ̣n. Anh T chi ̣ G đa đỗ ̀ng ý để Ngân hàng kê biên, niêm phong, bán đấu giá tài sả n để thu hồi nợ. Viê ̣c bán đấu giá diễn ra công khai đúng các trinh

̀ tự thủ tu ̣c pháp luâ ̣t quy đi ̣nh nên có hiê ̣u lực pháp luâ ̣t. Công ty T đa ngữ

̀ ng hoa ̣t đô ̣ng từ năm 2014 tài sản thế chấp là cơ sở bán hàng không phải là chỗ ở nên không vi pha ̣m về chỗ ở . Do vâ ̣y, không có căn cứ chấp nhâ ̣n kháng cáo của anh T chi ̣ G. Về án phi giải quyết theo quy đi ̣nh pháp luâ ̣t.

́

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét kháng cáo của anh Lê Minh T và chi ̣ Nguyễn Thi ̣ G thấy:

Về tố tu ̣ng : Tại phiên tòa phúc thẩm , anh Nguyễn Văn Đ và U ỷ ban nhân dân xa H có đơn đề nghị xét xử vẵ

́ng mă ̣t, ông Nguyễn Hồng C đa đượ̃

c triê ̣u tâ ̣p tớ i phiên tòa vớ i tư cách là người làm chứng nhưng vắng mă ̣t, tuy nhiên ông C đa cõ ́ lờ i khai lưu hồ sơ vu ̣ án . Vì vậy, căn cứ khoản 2 Điều 296, khoản 2 Điều 229 BLTTDS, Hô ̣i đồng xét xử tiếp tu ̣c tiến hành xét xử .

Anh T khở i kiê ̣n yêu cầu hủy hợp đồng thế chấp, hủy viê ̣c kê biên, niêm phong tài sản, hủy kết quả bán đấu giá và yêu cầu bồi thường thiệt hại do niêm phong không đúng. Ngân hàng N - Chi nhánh C, Nam Định (sau đây viết tắt là Ngân hàng) có đơn phản tố yêu cầu anh T chi ̣ G phải tháo rỡ toàn bộ phần lán dại lợp tôn làm phía trước nhà liền sát hành lang Quốc lộ 21 trên phần tài sản thế chấp mà Ngân hàng đã niêm phong, bán đấu giá thành công. Xét thấy, viê ̣c ký hợp đồng thế chấp tài sản phu ̣c vu ̣ cho hoa ̣t đô ̣ng kinh doanh của Công ty T nay có tranh chấp nên xác định là tranh chấp về kinh doanh, thương ma ̣i, tuy nhiên đơn khở i kiê ̣n và yêu cầu phản tố có cả tranh chấp về dân sự và việc giải quyết có liên quan đến nhau . Cấp sơ thẩm đa thu ̣̃

lý giải quyết trong cùng vụ án kinh doanh thương ma ̣i là phù hợp với quy định của pháp luật , nên không chấp nhâ ̣n quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa xác định những tranh chấp mà các đương sự khở i kiê ̣n, phản tố là tranh chấp dân sự.

Anh T khở i kiê ̣n Ngâ n hàng N - Chi nhánh C ồn, Nam Đi ̣nh. Xét thấy, chi nhánh C, Nam Đi ̣nh là đơn vị phụ thuộc không có tư cách pháp nhân, do vâ ̣y bị đơn trong vu ̣ án là Ngân hàng Nông nghiê ̣p và Phát triển nông thôn Việt Nam. Tại cấp phúc thẩm Ngân hàng N có văn bản ủy quyền cho Ngân hàng N - Chi nhánh C, Nam Định tham gia tố tụng giải quyết vụ án . Do vâ ̣y, không cần hủy án sơ thẩm.

Viê ̣c anh Mai Văn N là Kiểm sát viên , Viê ̣n kiểm sát huyê ̣n Hải Hâ ̣u tham gia kê biên, niêm phong tài sản sau đó la ̣i tham gia giải quyết vu ̣ án . Xét thấy, anh N có mặt tham gia kê biên, niêm phong tài sản sau đó lại tham gia giải quyết vu ̣ án, nhưng căn cứ Điều 52 BLTTDS thì anh N không thuô ̣c trườ ng hợp phải từ chối tiến hành tố tụng giải quyết vụ án . Nên không chấp nhâ ̣n lờ i trinh

̀ bày của anh Tám, chị Gấm và Luâ ̣t sư bảo vê ̣ quyền, lợi ích hợp pháp cho anh T.

Về nô ̣i dung: Quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm anh T chi ̣ G đều khai tự nguyện ký hợp đồng thế chấp trong tinh tra ̣ng sứ c

̀ khỏe bình thường có đầy đủ năng lực hành vi dân sự để bảo đảm cho món vay 3 tỷ của Công ty T. Ông Nguyễn Hồng C nguyên là chủ ti ̣ch Uỷ ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) xã H và ông Nguyễn Quố c M là cán bộ địa chính xã H đều có lời khai khẳng đi ̣nh viê ̣c chứ ng thực đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất của anh T chị G vớ i Ngân hàng được thực hiê ̣n ta ̣i UBND xa H , có mặt Ngâ ñ hàng, anh T và chi ̣ G, ông C đa kỹ ́ chứ ng thực vào hợp đồng thế chấp, ông M là ngườ i đăng ký thế chấp và vào sổ đăng ký giao di ̣ch bảo đảm . Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ tại Ngân hàng ngày 25/5/2016 theo yêu cầu của anh T thì hợp đồng thế chấp số DN2012-01a/HĐTC ngày 07/02/2012 đang lưu giữ ta ̣i Ngân hàng, bản chính gồm 3 tờ 6 trang, không đánh số trang, có chữ ký ở trang cuối, có đóng dấu giáp lai 3 tờ, anh T chị G đã xem hợp đồng thế chấp và xác nhận đúng chữ ký của mình trong hợp đồng (BL 119). Tại phần chứng thực UBND xã H có ghi hợp đồng thế chấp….được giao kết giữa bên A (Ngân hàng) và bên B (ông (bà) Lê Minh T), nhưng ta ̣i mu ̣c các đồng sở hữu của hợp đồng thế chấp có chữ ký của chị G và tại phiên tòa cũng nh ư quá trinh giải quyết vu ̣

̀ án chị G đều khai tự nguyện thế chấp tài sản để bảo đảm cho món vay 3 tỷ cho Công ty T, nên mă ̣c dù ta ̣i phần chứ ng thực của UBND xa H có ghi thiếu tên chi ̣̃ Nguyễn Thi ̣ G nhưng ý chí của chị G vẫn cùng anh T thế chấp tài sản để bảo đảm cho món vay. Vì vậy, phần chứng thực của UBND xã H chỉ ghi ông (bà) Lê Minh T là có thiếu sót, nhưng không ảnh hưởng đến nội dung của hợp đồng thế chấp. Do anh T chị G đều tự nguyê ̣n ký hợp đồng thế chấp và được chứng thực, đăng ký giao di ̣ch bảo đảm nên Luâ ̣t sư bảo vê ̣ quyền và lợi ich của anh T cho

́ rằng hợp đồng thế chấp vi phạm nguyên tắc bình đẳng, vi pha ̣m nguyên tắc tuân thủ pháp luật không được chấp nhận.

Hợp đồng thế chấp ghi bên nhận thế chấp là Ngân hàng C, còn con dấu đóng trên hợp đồng là chi nhánh ngân hàng C - Chi nhánh n gân hàng N tỉnh Nam Đi ̣nh. Như vâ ̣y, tại mục người nhận thế chấp ghi chưa đầy đủ tên của chi nhánh nhưng con dấu được đóng t ại hợp đồng thế chấp đa thể hiê ̣̃

n đầy đủ tên của đơn vị , xét về bản chất Ngân hàng C vớ i Chi nhánh ngân hàng C - Chi nhánh ngân hàng N tỉnh Nam Định là một đơn vị , viê ̣c ghi chưa đầy đủ này không làm th ay đổi chủ thể trong hợp đồng thế chấp . Vì vậy, không có căn cứ tuyên bố hợp đồng thế chấp số DN2012-01a/HĐTC ngày 07/02/2012 vô hiê ̣u.

Do Công ty T vi pha ̣m nghia vu ̣̃

trả nợ gốc và nợ lai theo thỏa thuận tạĩ hợp đồng tín dụng, nên từ tháng 12 năm 2013 giữa Ngân hàng và anh T chi ̣ G đa ̃ rất nhiều buổi làm viê ̣c bàn về nghĩa vụ trả nợ, anh T chi ̣ G đa đề nghị xin được̃ tự bán tài sản thế chấp nhưng anh chi ̣ không thực hiê ̣ n. Tại đơn đề nghị của anh T ngày 27/10/2014 anh T đã khẳng định: “…Sang năm 2014, Công ty đã ngưng hoạt động…” (BL 334). Căn cứ Điều 63 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch đảm bảo quy định về quyền thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý và tại điểm 4.1,1 khoản 4.1; khoản 4.3 Điều 4 của Hợp đồng thế chấp tài sản số DN2012-01a/HĐTC ngày 07/02/2012 giữa Ngân hàng với anh T chị G đã thỏa thuận: “Bên A (Ngân hàng) được toàn quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ trong các trường hợp sau: 4.1.1 khi đến hạn trả nợ của bất kỳ khoản vay nào được đảm bảo bằng hợp đồng thế chấp này mà bên C (Công ty T) không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với bên A … và phương thức xử lý tài sản: Trong thời hạn không quá 30 ngày, kể từ ngày đến hạn trả nợ của Bên C, bên B (anh T chi ̣ G ) phải chủ động phối hợp với bên A để bán tài sản thu hồi nợ. Quá thời hạn trên, bên A có quyền bán tài sản thế chấp để thu hồi nợ mà không cần có ý kiến của bên B, bên C…”. Như vâ ̣y , tại hợp đồng thế chấp các bên đa thõ

̉a thuâ ̣n về quyền xử lý tài sản bảo đảm khi bên vay vi pha ̣m nghia vu ̣ trả nợ, mă ̣̃

t khác, quá trình kê biên và niêm phong tài sản thế chấp anh T, chị G có mặt và anh T đa kỹ ́ vào biên bản kê biên và niêm phong tài sản ngày 11/11/2014 và ghi giao tài sản cho Tòa án nhưng sau đó anh T không khở i kiê ̣n mà còn tiếp tu ̣c cùng Ngân hàng định giá tài sản với giá khở i điểm là 3.645.000.000đ để bán đấu giá.

Theo lời trình bày của anh T chị G tại phiên tòa và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì anh T chị G không chỉ có tài sản đã niêm phong là tài sản duy nhất, mà còn có nhà đất ở xã H 1 và có 2 nhà đất ở xã H gồm: một nhà mái bằng trên thửa đất số 76, tờ bản đồ số 13, diện tích 125m2; một nhà mái bằng trên thửa đất số 233, tờ bản đồ số 14, diện tích 95m2 mà anh T chị G đang ký bảo lãnh cho người khác vay vốn tại Ngân hàng (BL 54, 57). Mă ̣t khác, tại Điều 6 hợp đồng thế chấp hai bên có thỏa thuâ ̣n trườ ng hợp phải xử lý tài sản thế chấp thi bên A (Ngân hàng) không chi ̣u bất cứ nghia vu ̣, trách nhiệm gì liêñ

̀ quan đến uy tin , nơi ở , điều kiê ̣n sinh hoa ̣t về các vấn đề an sinh . Viê ̣c kê biên,

́ niêm phong tài sản có mă ̣t Chủ ti ̣ch UBND xã H và nhiều cán bộ xã H đa đã ̉m bảo tính khách quan , công khai và an ninh trâ ̣t tự trong quá trinh l àm viê ̣c. Vì

̀ vâ ̣y, không có căn cứ hủy viê ̣c kê biên , niêm phong tài sản và buô ̣c Ngân hàng phải bồi thườ ng thiê ̣t ha ̣i cho anh T chi ̣ G.

Trung tâm D, Sở tư pháp tỉnh Nam Định đã thực hiện viê ̣c thông báo công khai tất cả các lần bán tài sản đấu giá trên phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết tại Trung tâm, tại trụ sở Ngân hàng và tại địa phương nơi có tài sản bán đấu giá… Qua 9 lần thông báo hạ giá ngày 30/9/2015 mớ i bán đấu giá thành công cho anh Nguyễn Văn Đ với giá mua 3.195.000.000đ, Trung tâm D đã lập biên bản bán đấu giá tài sản số 21/2015/BĐG và ký hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá số 21/2015/HĐMB có đầy đủ chữ ký của các bên và được Công chứng. Tại phiên tòa sơ thẩm, anh T chi ̣ G khai biết viê ̣c bán đấu giá tài sản thế chấp thông qua đài phát thanh xa H còn tại phiên tõ

̀a phúc thẩm anh T chị G khai biết viê ̣c bán tài sản đấu giá qua việc niêm yết tại trụ sở Công ty T. Như vâ ̣y, các trình tự thủ tục bán đấu giá tài sản của Trung tâm D đã thực hiện theo quy định của Nghị định 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010.

Ngày 01/02/2013 Công ty T ký hợp đồng tín dụng số 3209-LAV-200901185 vay 3 tỷ đồng của Ngân hàng thời hạn cho vay 12 tháng. Tài sản thế chấp là quyền sử du ̣ng 645m2 đất và tài sản gắn liền vớ i đất là nhà bán hàng 600m2 xây kiên cố . Như vâ ̣y , anh T chi ̣ G đa thế chẫ

́p toàn bô ̣ bất đô ̣ng sản thuô ̣c quyền quản lý sử du ̣ng của minh để bảo đảm cho món vay 3 tỷ đồng, tại

̀

khoản 1 Điều 342 Bô ̣ luâ ̣t dân sự năm 2005 quy đi ̣nh: “ Trườ ng hợp thế chấp toàn bộ bất động sản, đô ̣ng sản có vâ ̣t phu ̣ thi vâ ̣t phu ̣ của bất đô ̣ng sản, đô ̣ng sản

̀

đó cũng thuô ̣c tài sản thế chấp”. Mă ̣t khác, tại biên bản định giá tài sản bảo đảm ngày 07/02/2012 Ngân hàng và anh T chi ̣ G đa đi ̣̃ nh giá nhà bán hàng 600m2 xây kiên cố tri ̣ giá 1,5 tỷ đồng đã bao gồm các vật phụ. Vì vậy, tất cả các vâ ̣t phu ̣ của căn nhà bán hàng xây kiên cố 600m2đều thuộc tài sản thế chấp.

Tại phiên tòa phúc thẩm Ngân hàng trình bày chỉ ký hợp đồng bán đấu giá tài sản vớ i Trung tâm D là nhà đất mà anh T chị G đa thế chẫ

́p theo hợp đồng thế chấp số DN2012-01a/HĐTC và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử du ̣ng đất, còn Trung tâm D trình bày chỉ bán đấu giá nhà đất theo đúng hợp đồng đa kỹ ́ vớ i Ngân hàng. Xét thấy, căn cứ vào hợp đồng bán đấu giá tài sản số 01/2015/HĐBĐG ngày 20/01/2015 giữa Ngân hàng N - Chi nhánh C, Nam Định vớ i Trung tâm D – Sở tư phá p tỉnh Nam Định và hợp đồng mua bán tài sản đấu giá số 21/2015/HĐMB ngày 30/9/2015 giữa Trung tâm D - Sở tư pháp tỉnh Nam Đi ̣nh vớ i anh Nguyễn Văn Đ đều phản ánh viê ̣c mua bán đấu giá tài sản theo đúng hợp đồng thế chấp tài sản số DN2012-01a/HĐTC ngày 07/02/2012 giữa Ngân hàng N - Chi nhánh C, Nam Định với anh Lê Minh T và chị Nguyễn Thị G. Quá trình thẩm định tại chỗ theo yêu cầu của anh T về tài sản thế chấp , trên thực tế diê ̣n tich đất anh T chi ̣ G sử du ̣ng có thừa ra so với Giấy chứng nhận

́ quyền sử du ̣ng đất được cấp nhưng diê ̣n tich đất thừ a này không thế chấp cho

́

Ngân hàng mà không bán đấu giá. Do vâ ̣y, không có căn cứ hủy kết quả bán đấu giá.

Từ những phân ti ch trên không có căn cứ hủy án bản án sơ thẩm như

́ kháng cáo của anh T chị G và lời trình bày của Luâ ̣t sư bảo vê ̣ quyền, lợi ích cho anh T.

Do giữ nguyên án sơ thẩm , đương sự kháng cáo phải nô ̣p án phi phúc

́ thẩm.

Những quyết đi ̣nh khác của bản án sơ thẩm không bi ̣ kháng cáo

, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Không chấp nhận kháng cáo của anh Lê Minh T và chi ̣ Nguyễn Thi ̣ G, giữ nguyên án sơ thẩm quyết đi ̣nh về hợp đồng thế chấp , kê biên, niêm phong, đòi bồi thườ ng và bán đấu giá tài sản.

Căn cứ vào Điều 299,300, 301, 303, 304, 317, 319,320, 321, 322,323, Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 342 BLDS năm 2005, khoản 2 Điều 229, khoản 2 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự; Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Bác đơn khởi kiện của anh Lê Minh T yêu cầu tuyên bố hợp đồng thế chấp số DN2012-01a/HĐTC ngày 07/02/2012 giữa Ngân hàng N - Chi nhánh C, Nam Định với anh Lê Minh T và chị Nguyễn Thị G là vô hiệu và không chấp nhận yêu cầu hủy bỏ việc kê biên, niêm phong và kết quả bán đấu giá tài sản theo hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá số 21/2015/HĐMB ngày 30/9/2015 giữa Trung tâm D - Sở tư pháp tỉnh Nam Định với anh Nguyễn Văn Đ đối với nhà đất mà anh Lê Minh T và chị Nguyễn Thị G đã thế chấp cho Ngân hàng N - Chi nhánh C, Nam Định theo hợp đồng thế chấp số DN2012-01a/HĐTC ngày 07/02/2012.

2. Bác yêu cầu của anh Lê Minh T về viê ̣c đòi Ngân hàng N - Chi nhánh C, Nam Định phải bồi thường thiệt hại do niêm phong tài sản thế chấp không đúng cho vợ chồng anh T chị G số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng)/tháng, kể từ ngày 11/11/2014 cho đến ngày 23/5/2017 là 30 tháng 12 ngày với số tiền 304.000.000đ (Ba trăm linh bốn triệu đồng).

3. Chấp nhận yêu cầu phản tố của Ngân hàng N - Chi nhánh C, Nam Định. Buộc anh Lê Minh T chị Nguyễn Thị G phải rỡ bỏ toàn bộ phần lán dại lợp tôn làm phía trước nhà liền sát hành lang Quốc lộ 21 trên phần tài sản thế chấp mà Ngân hàng N - Chi nhánh C, Nam Định đã niêm phong bán đấu giá thành công cho anh Nguyễn Văn Đ, có chiều dài Nam Bắc 21,2m; chiều rộng Đông Tây ở đầu phía Bắc 2,4m, ở đầu phía Nam 2,3m, để Ngân hàng N - Chi nhánh C, Nam Định bàn giao tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá là anh Nguyễn Văn Đ.

4. Án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm : Anh Lê Minh T, chị Nguyễn Thị G mỗi ngườ i phải nộp 300.000đ nhưng được đối trừ vớ i số tiền ta ̣m ứ ng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai số 08981 ngày 6/6/2017 và biên lai số 08982 ngày 6/6/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Hậu . Anh T, chị G đa nô ̣̃ p đủ án phi kinh doanh thương ma ̣i phúc thẩm.

́

5. Án phí kinh doanh thương ma ̣i sơ thẩm : Anh Lê Minh T phải nộp 200.000đ do yêu cầu khởi kiện của anh T không được chấp nhận và phải nộp 200.000đ do yêu cầu phản tố của bị đơn được chấp nhận. Tổng số tiền án phi

́ kinh doanh thương ma ̣i sơ thẩm anh T phải nộp là 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh T đã nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tại biên lai thu số 06867 ngày 27/11/2015 và 3.000.000đ (ba triệu đồng) tại biên lai thu số 06866 ngày 27/11/2015 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Hoàn lại cho anh T 2.800.000đ (hai triệu tám trăm nghìn đồng). Miễn án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu bồi thường thiệt hại do không được chấp nhận cho anh Lê Minh T.

Ngân hàng N, Chi nhánh C, Nam Đi ̣nh không phải nô ̣p án phi kinh doanh

́ thương ma ̣i sơ thẩm hoàn lại cho Ngân hàng N, Chi nhánh C, Nam Đi ̣nh số tiền đa nô ̣̃ p là 200.000đ theo biên lai số 06934 ngày 15/3/2016 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Hậu.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ