vanban.org

Bản án 06/2017/HC-PT — Hành chính

TAND TP. Huế Tuyên án 26/09/2017 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/09/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

p dụng khoản 1 Điều 115; điểm b khoản 2 Điều 157; khoản 1 Điều 158 Luật tố tụng hành chính năm 2015; khoản 1 Điều 50; Điều 106 Luật đất đai năm 2003, tuyên xử:

Bác kháng cáo của ông Nguyễn ăn T và những người c quyền lợi, ngh a vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Ngọc B, bà Nguyễn Thị Ngọc L, ông Nguyễn Đ nh , bà Nguyễn Thị Ngọc C về việc yêu cầu: Hủy iấy chứng nhận quyền sử dụng dất số AB 151003 thửa đất số 111, diện tích 154m2 do Ủy ban nhân dân thành phố Huế … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Ong Nguyen Van T khieu kien Quyet dinh cua UBND thanh pho H"
  • Tòa quyết gì? p dụng khoản 1 Điều 115; điểm b khoản 2 Điều 157; khoản 1 Điều 158 Luật tố tụng hành chính năm 2015; khoản 1 Điều 50; Điều 106 Luật đất đai năm 2003, tuyên xử:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Luật Đất đai; Điều 115 Luật tố tụng hành chính; Điều 157 Luật tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2017/HC-PT
Ngày 26-9-2017
V/v khiếu kiện yêu cầu hủy giấy
Chứng nhận quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tôn Anh Dũng.

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Trọng Điệp

Bà Nguyễn Thị Kim Trọng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thừa thiên Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế: Ông Lê Phước Ngưỡng - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 26 tháng 9 năm 2017, tại tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 03/2017/TLPT-HC ngày 07 tháng 6 năm 2017 về việc khởi kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Do bản án hành chính sơ thẩm số 02/2017/HC-ST ngày 18 tháng 4 năm 2017 của Tòa án nhân dân thành phố H bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 16/2017/QĐ-PT ngày 31 tháng 8 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Người khởi kiện: ng Nguyễn ăn T.

Địa chỉ: X T B H, phường P T, thành phố H. C m t.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: Ông Nguyễn ăn Thanh, Luật sư của ăn phòng luật sư Bảo Cường, thu c Đoàn luật sư tỉnh Thừa Thiên Huế. C m t.

2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện: Ông C V L - Ph chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H ( ăn bản ủy quyền số: 3456 / BND-KNTC ngày 13 tháng 9 năm 2017). C m t.

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Bà Nguyễn Thị D (đã chết ngày 18/9/2016).

- Bà Nguyễn Thị Ngọc L. C m t.

- ng Nguyễn Đ nh . C m t.

Đều c ng địa chỉ: X T B H, phường P T, thành phố H.

- ng Nguyễn ăn L v ng m t lần thứ 2 không v sự kiện bất khả kháng).

Địa chỉ: T 12, khu vực 5, phường A H, thành phố H.

- Bà Nguyễn Thị Ngọc C;

Địa chỉ: T 9, K 6, phường A H, thành phố H. C m t.

- Bà Nguyễn Thị Ngọc B.

Địa chỉ: Y X, phường T L, thành phố H. C m t.

- ng Nguyễn ăn B.

- Bà Hu nh Thị N.

Đều c ng địa chỉ: Thôn X P, xã P X, huyện K, tỉnh Đ k L k . Đều c đơn xin xét xử v ng m t.

- Bà Nguyễn Thị Hồng H.

Trú tại: A P Đ, phường D, thành phố H. C m t.

4. Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Nguyễn Thị D gồm: Ông Nguyễn ăn T, bà Nguyễn Thị Ngọc L, ông Nguyễn Đ nh , ông Nguyễn ăn L, bà Nguyễn Thị Ngọc C, bà Nguyễn Thị Ngọc B, ông Nguyễn ăn B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu chứng cứ c trong hồ sơ vụ án th n i dung vụ án được t m t t như sau:

Theo đơn khởi kiện của ông Nguyễn ăn T và lời khai của bà Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị Ngọc L, Nguyễn Thị Ngọc B, Nguyễn Thị Ngọc C, ông Nguyễn Đ nh tr nh bày:

Nguồn gốc thửa đất số 111, tờ bản đồ số 12 diện tích 154 m2 tại X T B H, phường P T, thành phố H là n m trong lô đất do ông bà t tiên của họ để lại cho ông Nguyễn ăn Th và Nguyễn Thị D. ng Th và bà D c 07 người con là: Nguyễn ăn B, Nguyễn Thị Ngọc B, Nguyễn Đ nh P , Nguyễn ăn T, Nguyễn Thị Ngọc L, Nguyễn ăn L, Nguyễn Thị Ngọc C. Năm 1960, bà D và ông Th c xây dựng m t ngôi nhà trên thửa đất, đến năm 1975 do kinh tế gia đ nh kh khăn nên ông Th và bà D c bán m t số đất để nuôi con. Năm 1988, ông Th chết để lại ngôi nhà và đất trên vừa làm nơi thờ tự, vừa là ch ở cho bà D, bà L, vợ chồng và con ông . Ngày 31 tháng 12 năm 2004 ông Nguyễn ăn B chở bà Nguyễn Thị D đến phòng công chứng số 2, n i bà D lăn tay để làm giấy tờ nhà, lúc đ do bà D đã 81 tu i, không biết chữ, trí c không còn minh m n và tin con nên đã lăn tay. Từ đ , ông B và bà N vợ ông B làm thủ tục t ng cho từ tên bà D sang tên ông B và bà N rồi chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Hồng H.

vậy, ông Nguyễn ăn T và những người c quyền lợi ngh a vụ liên quan gồm: Nguyễn Thị Ngọc L, Nguyễn Thị Ngọc C, Nguyễn Thị Ngọc B và Nguyễn Đ nh , yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố H hủy iấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB151003 vào s cấp giấy H00146-2005 ngày 08 tháng 3 năm 2005 của Ủy ban nhân dân thành phố H đối với lô đất trên, cấp cho ông Nguyễn ăn B và bà Hu nh Thị N. au khi thụ lý vụ án, ngày 31 tháng 12 năm 2012 ông Nguyễn ăn T c đơn khởi kiện b sung yêu cầu hủy iấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 16/11/2012 của Ủy ban nhân dân thành phố H đối với bà Nguyễn Thị Hồng H.

Ông Nguyễn ăn B và bà Hu nh Thị N tr nh bày: Nguồn gốc thửa đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB151003 vào s cấp giấy H00146-2005 là n m trong thửa đất số 16, tờ bản đồ số 12, diện tích 499m2 của bà Nguyễn Thị D. Ngày 31 tháng 12 năm 2004 bà D đã lập hợp đồng t ng cho quyền sử dụng lô đất trên cho vợ chồng ông B và bà N; đã được Phòng Công chứng số 02 tỉnh Thừa Thiên Huế chứng thực. ợ chồng ông B và bà Ng thế chấp thửa đất trên tại Ngân hàng thương mại c phần A C, chi nhánh Huế để vay số tiền 200.000.0000 đồng. Do làm ăn thua l nên ông B và bà N không trả được nợ của ngân hàng. vậy, vợ chồng ông B và bà N đã bán nhà đất trên cho bà Nguyễn Thị Hồng H, việc chuyển nhượng c lập hợp đồng và c công chứng. vậy, ông B và bà N đề nghị Tòa án nhân dân thành phố H bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn ăn T.

ng Nguyễn ăn L tr nh bày: ng là con của bà Nguyễn Thị D và ông Nguyễn ăn Th, khi bà D lập hợp đồng t ng cho ông B và bà N thửa đất số 111, tờ bản đồ số 12 tại X T B H th ông không biết nhưng sau đ ông c nghe ông B n i lại. Trong thời gian đ th bà D v n minh m n, còn đi bán muối tại chợ A H. ng L từ chối tham gia tố tụng với tư cách là người c quyền lợi ngh a vụ liên quan đến vụ án.

Ông C V L đại diện theo ủy quyền của người bị kiện Ủy ban nhân dân thành phố H tr nh bày: ề nguồn gốc đất là do bà Nguyễn Thị D được Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A102084 ngày 25/7/1991 tại thửa đất số 58, tờ bản đồ số 4, diện tích 572m2. Ngày 20/9/2004 Ủy ban nhân dân thành phố H cấp đ i giấy chứng nhận số Y658810 cho bà Nguyễn Thị D thu c thửa đất số 16, tờ bản đồ số 12, với diện tích đất 499m2. Ngày 31/12/2004 bà D t ng cho ông, bà Nguyễn ăn B và Hu nh Thị N thửa đất số 111, với diện tích 154m2 được tách ra từ thửa đất số 16, tờ bản đồ số 12, theo Hợp đồng t ng cho quyền sử dụng đất số 69 được phòng Công chứng số 2 tỉnh Thừa Thiên Huế chứng nhận và đã được Ủy ban nhân dân thành phố H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông B bà N số AB151003 vào s cấp giấy H00146-2005 ngày 08/3/2005. Trong quá tr nh giải quyết, ngày 17/9/2012 Tòa án nhân dân thành phố H đã c Quyết định số 04/2012/QĐ T-HC quyết định đ nh chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm thụ lý số 03/2011/TL T-HC ngày 12/12/2011. au khi c Quyết định đ nh chỉ vụ án, ông Nguyễn ăn T c đơn kháng cáo. Ngày 19/10/2012, Phòng tài nguyên môi trường đã c công văn số 735/C -TN MT đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế cho ý kiến về việc công nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Hồng H. Theo đ , Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế c Công văn số 483/C -TA ngày 25/10/2012, tại công văn trên không c n i dung áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với việc giải quyết hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Hồng H, nên H i đồng xét duyệt hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thành phố H đã thống nhất đề xuất BND thành phố H giải quyết cấp cho bà H. Ngày 16/11/2012 Ủy ban nhân dân thành phố H đã xác nhận thay đ i tên chủ sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Hồng H tại thửa đất số 111, tờ bản đồ số 12, diện tích 154m2. Ủy ban nhân dân thành phố H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông B và bà N và thay đ i chủ sử dụng đất cho bà H là đúng tr nh tự, thủ tục, thẩm quyền và c căn cứ pháp lý. vậy, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố H không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.

Người c quyền lợi ngh a vụ liên quan bà Nguyễn Thị Hồng H tr nh bày: bà H nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 111, tờ bản đồ số 12 tại X T B H, thành phố H đã c hợp đồng công chứng c hiệu lực pháp luật. vậy, bà H đề nghị Tòa án xem xét để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn ăn T là Luật sư Nguyễn ăn Thanh đề nghị H i đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện hủy iấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB151003 vào s cấp giấy H00146-2005 ngày 08 tháng 3 năm 2005 của Ủy ban nhân dân thành phố H v : Căn cứ Điều 25 Luật Hôn nhân gia đ nh th thửa đất số 16, tờ bản đồ số 12 tại X T B H là tài sản chung của vợ chồng bà D và ông Th, ông Th chết th những người con của bà D và ông Th c quyền định đoạt thửa đất trên, việc bà D t ng cho ông B, bà Ng khi chưa c sự đồng ý của các con là không đúng quy định của pháp luật. Hơn nữa, khi lập hợp đồng t ng cho ông B, bà Ng th bà D đã 81 tu i, không còn minh m n và bị lừa dối, đồng thời yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Nguyễn Thị Hồng H ngày 16/11/2012 v thời điểm này đất đang còn tranh chấp.

Người làm chứng ông Nguyễn Phi L tr nh bày: Mối quan hệ giữa ông và gia đ nh ông T là quan hệ hàng x m. Ngày 31/12/2004 ông Toán và ông B c nhờ ông đến Phòng công chứng số 2 để bà D làm hợp đồng t ng cho quyền sử dụng đất tại X T B H, phường P T, thành phố H. au khi lập hợp đồng xong, công chứng viên c đọc lại cho bà D, ông B, bà N và ông L nghe sau đ tất cả c ng ký vào hợp đồng, bà N và bà D không biết chữ nên lăn tay. Lúc đ bà D minh m n, không bị ai ép bu c, ông Nguyễn ăn T cũng c m t để bà D lập hợp đồng t ng cho ông T đất nhưng do giấy tờ của ông T chưa đầy đủ nên chưa làm được.

Người làm chứng ông Lưu Thành Đ tr nh bày: Mối quan hệ giữa ông và gia đ nh ông T là quan hệ hàng x m. Ngày 31/12/2004 vợ chồng ông c ng với ông B, ông T, bà D, ông L c đến phòng công chứng số 2 tỉnh Thừa Thiên Huế để làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Đ. au khi làm hợp đồng công chứng viên đọc lại cho mọi người c ng nghe và ký tên, bà D không biết chữ nên điểm chỉ.

Tại bản án hành chính sơ thẩm số 11/2013/HC-ST ngày 31/10/2013, Tòa án nhân dân thành phố H đã quyết định: Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn ăn T về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB151003 ngày 8/3/2005 của Ủy ban nhân dân thành phố H cấp cho ông Nguyễn ăn B, bà Hu nh Thị N và thay đ i tên người sử dụng đất ngày 16/11/2012 đối với bà Nguyễn Thị Hồng H.

Tại bản án hành chính phúc thẩm số 08/2014/HC-PT ngày 28/3/2014, Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã quyết định: Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chủ sử dụng ông Nguyễn ăn B và bà Hu nh Thị N số AB151003 thửa đất số 111 diện tích 154m2 do Ủy ban nhân dân thành phố H cấp ngày 8/3/2005; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chủ sử dụng bà Nguyễn Thị Hồng H tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB151003 thửa đất số 111 diện tích 154m2 do Ủy ban nhân dân thành phố H cấp ngày 16/11/2012.

Tại quyết định giám đốc thẩm số 02/2016/HC- ĐT, ngày 26/1/2016, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đã quyết định: Hủy bản án hành chính phúc thẩm số 08/2014/HC-PT ngày 28/3/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế và Bản án hành chính sơ thẩm số 11/2013/HC-ST ngày 31/10/2013 của Tòa án nhân dân thành phố H. iao hồ sơ vụ án để Tòa án nhân dân thành phố H xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.

Tại bản án hành chính sơ thẩm số 02/2017/HC-ST ngày 18/04/2017, Tòa án nhân dân thành phố H đã quyết định: Căn cứ khoản 1 Điều 115; điểm b khoản 2 Điều 157; khoản 1 Điều 158 Luật tố tụng hành chính năm 2015; khoản 4 Điều 49; khoản 1 Điều 50, khoản 2 Điều 52; Điều 127; Điều 129 Luật đất đai năm 2003. Điều 38, khoản 5 Điều 43, khoản 1 Điều 44 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ; khoản 2 Điều 34 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án; tuyên xử:

Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn ăn T về việc yêu cầu: Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chủ sử dụng ông Nguyễn ăn B và bà Hu nh Thị N số AB151003 thửa đất số 111, diện tích 154m2 do Ủy ban nhân dân thành phố H cấp ngày 8/3/2005 và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chủ sử dụng bà Nguyễn Thị Hồng H tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB151003 thửa đất số 111, diện tích 154m2 do Ủy ban nhân dân thành phố H cấp ngày 16/11/2012.

Ngày 24/04/2017 và ngày 03/5/2017 người khởi kiện ông Nguyễn ăn T và những người c quyền lợi, ngh a vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Ngọc B, bà Nguyễn Thị Ngọc L, ông Nguyễn Đ nh , bà Nguyễn Thị Ngọc C c đơn kháng cáo với n i dung: Kháng cáo bản án hành chính sơ thẩm số 02/2017/HC-ST ngày 18/4/2017 của Tòa án nhân dân thành phố H. Yêu cầu của ng Nguyễn ăn T và những người c quyền lợi, ngh a vụ liên quan: Đề nghị h i đồng xét xử phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế sửa bản án sơ thẩm và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB151003 do BND thanh phố H cấp ngày 08/3/2005 của ông Nguyễn ăn B và bà Hu nh Thị N đồng thời coi việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 16/11/2012 của BND thành phố H cho bà Nguyễn Thị Hồng H là trái pháp luật về tố tụng hành chính nên không c giá trị pháp lý.

Tại phiên tòa, đại diện iện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế phát biểu:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án và tại phiên tòa H i đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng theo quy định của Luật tố tụng hành chính. Các đương sự thực hiện đúng theo quy định của Luật tố tụng hành chính. Riêng ông Nguyễn ăn B và bà Hu nh Thị N tất cả các phiên tòa không c m t là ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.

ề n i dung: Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn ăn B và bà Hu nh Thị N, tại Quyết định iám đốc thẩm, đã nhận định “… Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, giữa cụ Nguyễn Thị D với ông B bà N là hợp pháp, thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, ông Nguyễn Văn T và cụ D cho rằng ông B bà N lừa dối cụ D là không có căn cứ…”. Tuy nhiên trên thửa đất ông B bà N chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Hồng H có ngôi nhà chưa xác định quyền sở hữu, cấp sơ thẩm chưa làm rõ chủ sở hữu của ngôi nhà trên thửa đất. Việc ông Bính bà Ngọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất có ngôi nhà cho bà Nguyễn Thị Hồng H làm ảnh hưởng đến quyền lợi của những người sở hữu đồng thừa kế với ông B, tại phiên tòa phúc thẩm không thể kh c phục được.

Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị Hồng H. Trong khi Tòa án đang thụ lý giải quyết đơn khởi kiện của ông Nguyễn ăn T nhưng ngày 16/11/2012 Ủy ban nhân dân thành phố H v n cấp giấy iấy chứng nhận quyền sử dụng dất số AB 151003 cho bà Nguyễn Thị Hồng H là vi phạm khoản 1 Điều 50 Luật đất đai 2003.

Do đ , đề nghị H i đồng xét xử phúc thẩm: căn cứ khoản 3 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính năm 2015: Hủy bản án Hành chính sơ thẩm số 02/2017/HC-ST ngày 18/4/2017 của Tòa án nhân dân thành phố H, giao hồ sơ cho cấp sơ thẩm giải quyết lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

ề thủ tục tố tụng: ng Nguyễn ăn B và bà Hu nh Thị N đề nghị Tòa án giải quyết v ng m t, ông Nguyễn ăn L đã được triệu tập đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng v n v ng m t không v sự kiện bất khả kháng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 157; khoản 1 Điều 158 Luật tố tụng hành chính, Tòa án tiến hành xét xử v ng m t họ.

ề đối tượng khởi kiện: Ông Nguyễn ăn T làm đơn yêu cầu hủy iấy chứng nhận quyền sử dụng dất số AB 151003 thửa đất số 111, diện tích 154m2 do Ủy ban nhân dân thành phố H cấp ngày 08/3/2005 cho ông Nguyễn ăn B và bà Hu nh Thị N và hủy giấy iấy chứng nhận quyền sử dụng dất số AB 151003 thửa đất số 111, diện tích 154m2 do Ủy ban nhân dân thành phố H cấp ngày 16/11/2012 cho bà Nguyễn Thị Hồng H, đơn của ông Nguyễn ăn T là trong thời hạn luật định. Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết theo thủ tục tố tụng hành chính là đúng quy định của pháp luật.

ề nguồn gốc thửa thửa đất số 16 tờ bản đồ số 12, diện tích 499m2 tọa lạc tại X T B H, phường P T, thành phố H và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị D:

Theo đơn xin đăng ký quyền sử dụng ru ng đất ngày 26/2/1985, người đăng ký là ông Nguyễn văn Th và bà Nguyễn Thị D đã kê khai nguồn gốc do cha mẹ để lại, nhưng vào năm 1991 Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị D. Ngày 20/9/2004 Ủy ban nhân dân thành phố H cấp đ i giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y658810 cho bà Nguyễn Thị D thu c thửa đất số 16, tờ bản đồ số 12, với diện tích đất 499m2 , sau đ , bà Nguyễn Thị D đã tách thành 5 thửa và đã chuyển nhượng cho ông Lưu Thành Đ, bà P T N Y, hiện nay họ v n ở trên khu đất này, đã t ng cho ông Lê T, ông Nguyễn ăn B và bà Hu nh Thị N, ông Nguyễn ăn T và bà Trần Thị L. iệc bà D cho t ng, chuyển nhượng đất là công khai, ông T bà L; ông B và bà N nhận đất của bà D với n i dung là mẹ t ng cho con. Tại hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 20/9/2013 bà Nguyễn Thị Ngọc C, Nguyễn Thị Ngọc B cũng đã làm chứng xác nhận ông T, bà L chuyển nhượng m t phần đất mà bà D đã t ng cho. Do đ , khẳng định ý chí của những người thừa kế ông Nguyễn ăn Th đã thừa nhận thửa đất trên là của bà Nguyễn Thị D, nên năm 1991 Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị D. Ngày 20/9/2004 Ủy ban nhân dân thành phố H cấp đ i giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y658810 cho bà Nguyễn Thị D thu c thửa đất số 16, tờ bản đồ số 12, với diện tích đất 499m2 là của riêng bà D. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà D đã thực hiện các giao dịch chuyển nhượng đất. Hiện nay, không c người nào yêu cầu phải hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Nguyễn Thị D, nên không xem xét lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Nguyễn Thị D.

Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn ăn B và bà Hu nh Thị N:

Ngày 16/12/2004, bà Nguyễn Thị D thuê Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thừa Thiên Huế phân thửa đất số 16, tờ bản đồ số 12 thành 05 thửa đất là 109, 110, 111, 112 và 113 (biên bản phân chia thửa đất không thể hiện c nhà trên đất.

Ngày 31/12/2004, tại phòng công chứng số 2 tỉnh Thừa Thiên Huế, bà Nguyễn Thị D lập “Hợp đồng t ng cho quyền sử dụng đất” t ng thửa số 111 cho ông Nguyễn ăn B Hợp đồng không thể hiện c nhà trên đất . Hợp đồng c xác nhận cuẩ Công chứng viên Nguyễn Thị Thanh H, người làm chứng Nguyễn Phi L.

Do thửa đất trên là của bà Nguyễn Thị D, nên bà D c quyền t ng cho ông B, bà N. Theo các lời khai của bà Nguyễn Thị D, ông Nguyễn ăn L, ông Nguyễn Phi L th vào thời điểm ngày 31/12/2004 khi lập hợp đồng t ng cho ông B, bà Ng quyền sử dụng đất th bà D còn minh m n và v n còn đi buôn bán. Theo ông Nguyễn ăn T người khởi kiện khai th bà Nguyễn Thị D t ng cho vợ chồng ông B, bà N m t phần đất trong thửa đất của bà D vào ngày 10/6/2005 tại phòng công chứng số 2, lúc này bà D không còn minh m n, bị lừa dối. H i đồng xét xử xét thấy thời điểm bà D cho ông T đất là sau hơn 6 tháng so với thời điểm bà D cho vợ chồng ông B đất, nhưng bà D v n b nh thường, nên lý do ông T và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T cho r ng bà Dạng không còn minh m n và bị lừa dối khi t ng cho ông B đất là không c căn cứ.

Như vậy “Hợp đồng t ng cho quyền sử dụng đất” ngày 31/12/2004 giữ cụ Nguyễn Thị D với ông Nguyễn ăn B và bà Hu nh Thị N là hợp pháp, thực hiện đúng quy định của pháp luật. iệc ông Nguyễn ăn T, bà Nguyễn Thị D cho r ng ông B lừa dối bà D là không c căn cứ.

au khi được bà D lập hợp đồng t ng cho quyền sử dụng đất, ông Nguyễn ăn B c đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất. Ủy ban nhân dân thành phố H đã căn cứ vào đơn xin đăng ký của ông Nguyễn ăn B; biên bản phân chia thửa đất; Hợp đồng t ng cho quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị D để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 151003 thửa đất số 111, diện tích 154m2 ngày 08/3/2005 cho ông Nguyễn ăn B và bà Hu nh Thị N là đúng quy định của pháp luật, theo Điều 106 Luật đất đai năm 2003.

Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị Hồng H: Trong khi Tòa án đang thụ lý giải quyết đơn khởi kiện của ông Nguyễn ăn T về việc yêu cầu hủy iấy chứng nhận quyền sử dụng dất số AB 151003 thửa đất số 111, diện tích 154m2 do Ủy ban nhân dân thành phố H cấp ngày 08/3/2005 cho ông Nguyễn ăn B và bà Hu nh Thị N, nhưng ngày 16/11/2012 Ủy ban nhân dân thành phố H v n cấp iấy chứng nhận quyền sử dụng dất số AB 151003 thửa đất số 111, diện tích 154m2 cho bà Nguyễn Thị Hồng H là vi phạm khoản 1 Điều 50 Luật đất đai 2003, như nhận định của cấp sơ thẩm. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm lại nhận định: “… không cần thiết phải hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp cho bà Nguyễn Thị Hồng H nhưng đề nghị Ủy ban nhân dân thành phố H rút kinh nghiệm…”, là không đúng pháp luật, mà cần hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị Hồng H mới đúng quy định của pháp luật.

Đối với căn nhà trên thửa đất số 111, tờ bản đồ 12, tại X T B H, phường P T, thành phố H, th sau khi c Quyết định iám đốc thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành xác minh, xem xét tại ch biên bản xem xét thẩm định tại ch ngày 25/3/2017 và biên bản xác minh tại BND phường P T ngày 27/3/2017 đã xác định: trên thửa đất c 01 ngôi nhà cấp 4, kết cấu tường bờ lô, nền xi măng, mái ng i diện tích 7m x 6m. Ngoài ra còn c 01 mái hiên c t b ng s t, mái lợp tôn c diện tích 6m x 2,1m, hiện nay chưa xác định do ai tạo lập. H i đồng xét xử xét thấy ngôi nhà này nếu c tranh chấp khởi kiện sẽ được giải quyết b ng vụ án dân sự đ c lập, như cấp sơ thẩm nhận định là c căn cứ.

Do đ , cần chấp nhận m t phần kháng cáo của ông Nguyễn ăn T, bà Nguyễn Thị Ngọc B, bà Nguyễn Thị Ngọc L, ông Nguyễn Đ nh và bà Nguyễn Thị Ngọc C; căn cứ điểm a khoản 2 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính, sửa bản án sơ thẩm: iữ nguyên iấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Nguyễn ăn B và bà Hu nh Thị N số AB 151003 do BND thành phố H cấp ngày 08/3/2005 và Hủy giấy iấy chứng nhận quyền sử dụng dất số AB 151003 thửa đất số 111, diện tích 154m2 do Ủy ban nhân dân thành phố H cấp ngày 16/11/2012 cho bà Nguyễn Thị Hồng H.

ề án phí hành chính phúc thẩm: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc H i về án phí, lệ phí Tòa án. ng Nguyễn ăn T và những Người c quyền lợi, ngh a vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Ngọc B, bà Nguyễn Thị Ngọc L, ông Nguyễn Đ nh , bà Nguyễn Thị Ngọc C, không phải chịu án phí phúc thẩm, m i người được trả lại là 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà ông Nguyễn ăn T, bà Nguyễn Thị Ngọc B, bà Nguyễn Thị Ngọc L, ông Nguyễn Đ nh , bà Nguyễn Thị Ngọc C, đã n p tại Chi cục thi hành án dân sự tỉnh thành phố H (tại các biên lai thu tạm ứng án phí số: 002769; 002770; 002771; 002772; 002773 ngày 09/5/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H)

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 241 Luật Tố tụng Hành chính, sửa m t phần bản án sơ thẩm;

p dụng khoản 1 Điều 115; điểm b khoản 2 Điều 157; khoản 1 Điều 158 Luật tố tụng hành chính năm 2015; khoản 1 Điều 50; Điều 106 Luật đất đai năm 2003, tuyên xử:

1. Bác kháng cáo của ông Nguyễn ăn T và những người c quyền lợi, ngh a vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Ngọc B, bà Nguyễn Thị Ngọc L, ông Nguyễn Đ nh , bà Nguyễn Thị Ngọc C về việc yêu cầu: Hủy iấy chứng nhận quyền sử dụng dất số AB 151003 thửa đất số 111, diện tích 154m2 do Ủy ban nhân dân thành phố Huế cấp ngày 08/3/2005 cho ông Nguyễn ăn B và bà Hu nh Thị N.

2. Chấp nhận m t phần kháng cáo của ông Nguyễn ăn T và những người c quyền lợi, ngh a vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Ngọc B, bà Nguyễn Thị Ngọc L, ông Nguyễn Đ nh , bà Nguyễn Thị Ngọc C, sửa án sơ thẩm:

Hủy giấy iấy chứng nhận quyền sử dụng dất số AB 151003 thửa đất số 111, diện tích 154m2 do Ủy ban nhân dân thành phố H cấp ngày16/11/2012 cho bà Nguyễn Thị Hồng H.

3. Án phí hành chính phúc thẩm: Các bên đương sự không phải chịu, hoàn trả tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, đã n p tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H, cho các ông bà gồm: Ông Nguyễn ăn T 300.000 đồng theo biên lai thu số 002769 ngày 09/5/2017); Ông Nguyễn Đ nh 300.000 đồng (theo biên lai thu số 002772 ngày 09/5/2017); Bà Nguyễn Thị Ngọc L 300.000 đồng theo biên lai thu số 002771 ngày 09/5/2017); Bà Nguyễn Thị Ngọc C 300.000 đồng theo biên lai thu số 002773 ngày 09/5/2017); Bà Nguyễn Thị Ngọc B 300.000 đồng theo biên lai thu số 002770 ngày 09/5/2017);

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không c kháng cáo, kháng nghị đã c hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm c hiệu lực ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ