vanban.org

Bản án 06/2017/DSST — Tranh chấp hợp đồng ủy quyền

TAND Q. Ba Đình, TP. Hà Nội Tuyên án 18/09/2017 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Lê Xuân H đối với ông Lê Xuân T.

Tuyên bố: Chấm dứt thực hiện hợp đồng ủy quyền số: 1295/2013/HĐCN quyển số 04-TP/CC-SCC/HĐGD ngày 22/11/2013 tại Văn phòng Công chứng Quốc Thái, thành phố Hà Nội ký giữa anh Lê Xuân H và ông Lê Xuân T. Không chấp nhận đơn yêu cầu độc lập của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị L về… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 06/2017/DSST Tuyên án 18/09/2017
Phúc thẩm Bản án 215/2017/DS-PT Tuyên án 11/12/2017

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng ủy quyền — án dân sự — "Chấm dứt thực hiện hợp đồng ủy quyền."
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Lê Xuân H đối với ông Lê Xuân T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BA ĐÌNH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 06/2017/DSST
Ngày 18 tháng 9 năm 2017
V/v: Chấm dứt thực hiện
hợp đồng ủy quyền.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Long

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thụy

2. Bà Lương Thị Phương

Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình ghi biên bản phiên tòa:

Bà Phạm Thị Thùy Linh – Thƣ ký phiên tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 16 và 18 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án Dân sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2016/TL – DSST ngày 01 tháng 7 năm 2016 về yêu cầu “chấm dứt thực hiện hợp đồng ủy quyền” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 101/2017/QĐXX – ST ngày 01 tháng 9 năm 2017 giữa các đƣơng sự:

1. Nguyên đơn: Anh Lê Xuân H, sinh năm 1992; Hộ khẩu thƣờng trú: số 54 Vạn Phúc Thƣợng, tổ 10B, cụm 4, phƣờng Cống Vị, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Ngƣời đại diện theo ủy quyền: ông Vũ Đình L, sinh năm 1953; theo giấy ủy quyền ngày 04/7/2016. (ông Luân có mặt)

2. Bị đơn: Ông Lê Xuân T, sinh năm 1961; Hộ khẩu thƣờng trú: số 54 Vạn Phúc Thƣợng, tổ 10B, cụm 4, phƣờng Cống Vị, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Ngƣời đại diện theo ủy quyền: anh Vũ Thành C, sinh năm 1984; CMND số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 23 tháng 11 năm 2015; theo giấy ủy quyền ngày 03/10/2016. (anh Công có mặt)

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Văn phòng Công chứng Quốc Thái; địa chỉ: số 577 đƣờng Ngọc Hồi, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. (có công văn xin vắng mặt)

4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: Bà Phạm Thị L, sinh năm 1959; Hộ khẩu thƣờng trú: Số 186 phố Quán Thánh, phƣờng Quán Thánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Ngƣời đại diện theo ủy quyền: chị Phạm Thị Bảo N, sinh năm 1976; CMND số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 17/3/2014; theo hợp đồng ủy quyền ngày 28/4/2017. (chị N có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và bản tự khai cũng như các lời khai của nguyên đơn anh Lê Xuân H và đại diện theo ủy quyền ông Vũ Đình L trình bày:

Anh Lê Xuân H là chủ sở hữu và sử dụng hợp pháp nhà đất tại số 54 Vạn Phúc Thƣợng, tổ 10B, cụm 4, phƣờng Cống Vị, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BR 773235, số vào sổ cấp GCN: CH 001734/3106. QĐUB. 2013 do UBND quận Ba Đình, thành phố Hà Nội cấp ngày 13/11/2013. Ngày 22/11/2013, do yêu cầu về học tập và làm việc, phải thƣờng xuyên đi xa, nên anh H đã ký hợp đồng ủy quyền số 1295/2013/HĐCN quyển số 04-TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng Công chứng Quốc Thái, thành phố Hà Nội để ủy quyền cho bố là ông Lê Xuân T với nội dung:

“Toàn quyền quản lý, sử dụng, giải quyết việc đền bù, giải tỏa và nhận tiền đền bù (nếu có sau này); chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, cho mượn, góp vốn, cầm cố, thế chấp, thế chấp cho bên thứ ba vay vốn tại các ngân hàng và các tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật đối với quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất nói trên. Giá và điều kiện các giao dịch trên do bên B tự quyết định. Khi thực hiện các công việc ủy quyền nêu trên, bên B được lập, ký và nhận các giấy tờ cần thiết tại các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, đồng thời thay mặt bên A nộp các khoản phí, lệ phí, thuế (nếu có) phát sinh từ việc ủy quyền nói trên của bên A”.

Khi ký hợp đồng anh H không hiểu biết pháp luật một cách đầy đủ, không xác định đƣợc hậu quả pháp lý xảy ra và việc ảnh hƣởng đến quyền và lợi ích chính đáng của anh đối với nhà đất trên. Mặt khác trong quá trình quản lý ông T đã tự ý cho ngƣời lạ vào nhà ở, cho thuê nhà thu tiền mà không thông báo với anh, không giao lại tiền thuê nhà. Khi biết đƣợc sự việc xảy ra anh đã yêu cầu ông T giao lại bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho anh, nhƣng ông T không giao lại mà báo là đã mất. Anh đã yêu cầu Văn phòng Công chứng Quốc Thái hủy hợp đồng ủy quyền nêu trên mà không có sự hợp tác của ông T. Tuy nhiên, Văn phòng Công chứng yêu cầu phải có sự thỏa thuận của ông T. Vì vậy để đảm quyền lợi của mình, anh làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa ngƣời đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chỉ có yêu cầu Hội đồng xét xử tuyên bố: chấm dứt thực hiện hợp đồng ủy quyền số 1295/2013/HĐCN quyển số 04-TP/CC-SCC/HĐGD ngày 22/11/2013 tại Văn phòng Công chứng Quốc Thái, thành phố Hà Nội ký giữa anh H và ông Lê Xuân T, ngoài ra không có thêm yêu cầu nào khác.

* Tại bản tự khai, bị đơn ông Lê Xuân T và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn anh Vũ Thành C trình bày:

Con trai ông là anh Lê Xuân H hiện đang học tập tại nƣớc ngoài. Anh H hiện đang là chủ sở hữu căn nhà số 54 Vạn Phúc Thƣợng, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do UBND quận Ba Đình, thành phố Hà Nội cấp ngày 13 tháng 11 năm 2013.

Nguồn gốc đất là toàn bộ số tiền ông tích cóp đƣợc để mua, tại thời điểm đó anh H chƣa hề có công việc hay bất kỳ nguồn thu nhập ổn định nào. Khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do cũng muốn anh H đƣợc thừa kế tài sản trên nên vợ chồng ông đã đồng ý để anh H đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi hoàn tất việc chuyển nhƣợng và thủ tục sang tên cho anh H, ông T và anh H đã ký Hợp đồng ủy quyền tại Văn phòng Công chứng Quốc Thái. Với nội dung “toàn quyền quản lý, sử dụng,…chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, cho mượn… thực hiện công việc ủy quyền và báo cho bên A (anh H) về việc thực hiện công việc đó….”. Trong thời gian đƣợc ủy quyền, ông T luôn chấp hành nghiêm túc và đầy đủ các quy định tại Hợp đồng. Việc ông T cho thuê nhà cũng hoàn toàn nằm trong phạm vi ủy quyền đƣợc quy định tại Điều 1 của Hợp đồng ủy quyền. Trong thời gian cho thuê nhà, ông T có thông báo và vẫn gửi tiền thuê nhà cho anh H. Tại đơn khởi kiện, anh H có trình bày ông T không hề thông báo và không gửi tiền cho anh H, điều này là không đúng sự thật và hoàn toàn không có căn cứ.

Ông T khẳng định Hợp đồng ủy quyền đã lập giữa ông và anh H đã tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật và hoàn toàn có giá trị pháp lý. Khi ký hợp đồng ủy quyền ông và anh H đã đƣợc công chứng viên giải thích kỹ các quyền và nghĩa vụ cũng nhƣ hậu quả pháp lý của việc ký hợp đồng. Vì vậy việc yêu cầu hủy hợp đồng ủy quyền cần tuân theo quy định của pháp luật. Ông xác nhận ngày 22/11/2013 ông và anh H có ký Hợp đồng ủy quyền số 1295/2013/HĐUQ quyển số 04-TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng công chứng Quốc Thái. Trong quá trình thực hiện công việc đƣợc ủy quyền, ông T thực hiện đúng và đầy đủ công việc đƣợc anh H ủy quyền. Ông không thừa nhận những lời trình bày của anh H.

Ngƣời đại diện theo ủy quyền của bị đơn có ý kiến nhƣ sau: ông T và anh H là bố con. Khi thuê nhà ông có gọi thông báo qua điện thoại vì anh H ở nƣớc ngoài. Nay mục đích chính của cả hai bố con là muốn giữ lại căn nhà đó, không muốn chuyển nhƣợng. Vì vậy cả hai nên cùng thống nhất để cùng chấm dứt thực hiện hợp đồng ủy quyền và đƣa ra quan điểm về việc giải quyết vụ án để giữ tình cảm gia đình.

Tại phiên tòa ngƣời đại diện theo ủy quyền của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận đồng ý chấm dứt thực hiện hợp đồng ủy quyền tại thời điểm xét xử về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn “chấm dứt thực hiện hợp đồng ủy quyền” mà hai bên đã ký tại Văn phòng Công chứng Quốc Thái”, nhƣng ngƣời đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không nhất trí và đề nghị xét xử.

* Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng công chứng Quốc Thái có công văn số 29/CV-VPCC ngày 21/7/2016 trả lời với nội dung:

Ngày 22/11/2013, Văn phòng tiếp nhận hồ sơ yêu cầu công chứng Hợp đồng ủy quyền. Sau khi kiểm tra toàn bộ hồ sơ do ông Lê Xuân T và anh Lê Xuân H cung cấp, đối chiếu các văn bản pháp luật có liên quan, văn phòng đã soạn dự thảo hợp đồng ủy quyền theo yêu cầu của các bên. Ông Lê Xuân T và anh Lê Xuân H đã tự đọc dự thảo hợp đồng, đã hiểu rõ, đồng ý toàn bộ nội dung trong dự thảo hợp đồng và tự mình ký vào từng trang của hợp đồng, điểm chỉ ngón trỏ phải vào trang 3 của Hợp đồng trƣớc mặt công chứng viên Nguyễn Công Thu, văn phòng Công chứng Quốc Thái. Công chứng viên Nguyễn Công Thu đã đối chiếu bản chính của các giấy tờ về nhân thân, giấy tờ về tài sản do ông Lê Xuân T và anh Lê Xuân H xuất trình theo quy định trƣớc khi ghi lời chứng, ký vào từng trang của hợp đồng ủy quyền số 1295/2013/HĐUQ ngày 22/11/2013. Ngày 18/8/2015 anh Lê Xuân H có đến Văn phòng yêu cầu đơn phƣơng hủy Hợp đồng ủy quyền. Tuy nhiên theo Điều 7 các bên đã cam đoan “không đơn phƣơng chấm dứt hợp đồng ủy quyền này trong bất kỳ trƣờng hợp nào” và đối chiếu quy định tại Điều 51 Luật công chứng 2014 về việc công chứng việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch:

“ 1. Công chứng sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch đã được công chứng chỉ được thực hiện khi có sự thỏa thuận, cam kết bằng văn bản của tất cả những người tham gia hợp đồng, giao dịch đó.

2. Việc công chứng …, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch đã được công chứng được thực hiện tại tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng đó và do công chứng viên tiến hành. Trường hợp …thì công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng đang lưu trữ hồ sơ công chứng thực hiện việc …, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch.

3. Thủ tục công chứng …, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch đã được công chứng được thực hiện như thủ tục công chứng hợp đồng, giao dịch”.

Văn phòng Công chứng Quốc Thái đã nhận đƣợc các văn bản tố tụng của Tòa án và có công văn số: 39/CV-VPCC ngày 04/9/2016 đề nghị xin đƣợc vắng mặt tại các buổi làm việc; phiên hòa giải; tại phiên tòa xét xử sơ thẩm và bảo lƣu toàn bộ lời khai tại tòa án. Hội đồng xét xử đã công bố toàn bộ các lời khai, công văn của Văn phòng Công chứng Quốc Thái tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập bà Phạm Thị L và người đại diện theo ủy quyền chị Phạm Thị Bảo N trình bày:

Ngày 26/11/2013 bà L và ông Lê Xuân T có thỏa thuận về việc mua bán nhà và chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất tại 54 Vạn Phúc Thƣợng, với diện tích 44,4m2 với giá 4.000.000.000 (bốn tỷ) đồng. Khi thỏa thuận về việc mua bán nhà bà L có xem nhà trên thực tế, xem hợp đồng ủy quyền giữa anh H và ông T; giấy tờ nhà đất tại số 54 Vạn Phúc Thƣợng và giấy phép xây dựng đứng tên ông Nguyễn Thế Quang (là chủ cũ của ngôi nhà). Vì tin tƣởng vào nội dung của hợp đồng ủy quyền là ông T có “toàn quyền quản lý, sử dụng,…chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, cho mượn…” nên bà L đã đồng ý mua nhà đất nói trên. Trong quá trình thực hiện thỏa thuận về việc mua bán nhà và chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất bà L đã giao đủ tiền cho ông T theo giấy nhận tiền đặt cọc 600.000.000 đồng ngày 26/11/2013 và giấy nhận tiền 3.400.000.000 đồng ngày 20/3/2014 và hiện nay bà L đang quản lý, sử dụng nhà đất trên. Khi hai bên làm thủ tục sang tên do anh H và ông T chƣa kê khai bổ sung cho đúng với thực tế và giấy phép xây dựng, đã xây ngôi nhà bê tông 5 tầng trên đất, còn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ ghi nhà 2 tầng cấp 4, diện tích xây dựng 22,6m2, diện tích sàn 32,2m2. Ông T có hứa với bà sau khi đính chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với diện tích thực tế là 44,4m2 thì sẽ sang tên cho bà L, nhƣng ông T đã làm mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không thể làm thủ tục sang tên đƣợc.

Tại đơn đề nghị và các bản tự khai của bà L và ngƣời đại diện theo ủy quyền yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng ủy quyền giữa anh H và ông T là hợp pháp, thỏa thuận mua bán nhà giữa bà và ông T là hợp pháp và đề nghị tiếp tục thực hiện thỏa thuận và sang tên giấy chứng nhận quyền sử đất cho bà.

Tại phiên tòa các đƣơng sự không xuất trình thêm các tài liệu chứng cứ gì khác và có các yêu cầu nhƣ sau:

- Ngƣời đại diện ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên quan điểm nhƣ những lời trình bày và đề nghị Tòa án chấm dứt thực hiện hợp đồng ủy quyền ký giữa anh H và ông Lê Xuân T. Ngoài ra ngƣời đại diện của nguyên đơn không có yêu cầu hay đề nghị gì về thỏa thuận mua bán nhà và chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất tại 54 Vạn Phúc Thƣợng giữa ông T và bà L.

- Ngƣời đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày, vì mục đích chính của anh H là muốn giữ lại căn nhà, không muốn chuyển nhƣợng nên khởi kiện yêu cầu chấm dứt hợp đồng ủy quyền. Vì tình cảm gia đình nên ngƣời đại diện theo ủy quyền của bị đơn cũng nhất trí chấm dứt thực hiện hợp đồng ủy quyền tại thời điểm xét xử, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận này. Về yêu cầu độc lập của bà L, đề nghị tuyên bố giao dịch thỏa thuận mua bán nhà bị vô hiệu, bị đơn trả lại số tiền đã nhận là 4 tỷ đồng và bà L trả lại nhà đất trên.

- Tại phiên tòa ngƣời đại diện theo ủy quyền của bà L đề nghị nếu thỏa thuận mua bán nhà giữa bà và ông T là vi phạm về hình thức hợp đồng do chƣa làm thủ tục chuyển nhƣợng tại văn phòng Công chứng và giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng bà đề nghị anh H và ông T phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thƣờng hoàn trả cho bà số tiền bà đã bỏ ra mua nhà là 4 tỷ đồng và bà sẽ trả lại nhà đất tại số 54 Vạn Phúc Thƣợng và không yêu cầu bồi thƣờng thiệt hại hay tính lãi suất đối với số tiền đã giao để mua nhà đất này.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên Tòa phát biểu quan điểm vụ án:

+ Về thẩm quyền: Tòa án đã thụ lý đúng thẩm quyền theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

+ Xác định đúng tƣ cách pháp lý và mối quan hệ giữa những ngƣời tham gia tố tụng theo Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự;

+ Tiến hành hòa giải, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, công bố chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ theo Điều 212, 205, 206, 207, 208, 209, 210 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

+ Quyết định đƣa vụ án ra xét xử đã đƣợc Thẩm phán thực hiện theo đúng quy định tại Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự và đã đƣợc tống đạt hợp lệ cho các đƣơng sự;

+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định tại chƣơng XIV Bộ luật tố tụng dân sự;

+ Việc yêu cầu đơn phƣơng chấm dứt thực hiện hợp đồng ủy quyền của anh Lê Xuân H đối với ông Lê Xuân T là có căn cứ pháp luật để chấp nhận theo Điều 588, 589 Bộ luật dân sự năm 2005.

+ Đối với yêu cầu độc lập của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về việc Yêu cầu tòa án tuyên hợp đồng ủy quyền giữa anh H và ông T là hợp pháp và việc thỏa thuận mua bán nhà giữa bà Phạm Thị L và ông Lê Xuân T là hợp pháp.

Căn cứ Điều 132 Bộ luật dân sự năm 2005, giao dịch thỏa thuận chuyển nhƣợng căn nhà tại số 54 Vạn Phúc Thƣợng, giữa ông Lê Xuân T và Phạm Thị L bị vô hiệu do lỗi của chủ thể giao dịch và việc chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất giữa ông Lê Xuân T với bà Phạm Thị L vẫn chƣa đƣợc thực hiện theo thủ tục qui định về hình thức qui định tại khoản 2 Điều 689 Bộ luật dân sự năm 2005, việc mua bán mới là thỏa thuận viết tay giữa hai bên, chƣa đƣợc lập thành văn bản tại văn phòng công chứng theo qui định của pháp luật.

Căn cứ Điều 137 Bộ luật dân sự năm 2005 về hậu quả pháp lý về giao dịch vô hiệu: Các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay ngƣời đại diên theo ủy quyền của bị đơn đồng ý chấm dứt thực hiện hợp đồng ủy quyền với anh Lê Xuân H. Ngƣời đại diên theo ủy quyền của bà L và ngƣời đại diên theo ủy quyền của bị đơn nhất trí thống nhất về việc thỏa thuận chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất giữa ông T và bà Phạm Thị L bị vô hiệu và bà L trả nhà đất cho ông T và anh H, ông T trả lại bà L số tiền đã nhận là 4.000.000.000 (bốn tỷ) đồng. Đề nghị Tòa án ghi nhận sự thỏa thuận của các đƣơng sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra và tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đơn khởi kiện, thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết vụ án đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Trong quá trình giải quyết vụ án ông Lê Xuân T có đơn đề nghị chuyển vụ án lên Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết do hiện nay anh Lê Xuân H đang ở nƣớc ngoài. Hội đồng xét xử nhận thấy, thời điểm nộp đơn khởi kiện, thụ lý vụ án và hòa giải anh H có mặt tại Việt Nam. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ba Đình. Trong quá trình giải quyết vụ án anh H đi nƣớc ngoài đã ủy quyền toàn bộ cho ông Vũ Đình L tham gia tố tụng cho đến khi kết thúc vụ án theo quy định của pháp luật. Sau khi mời Luật sƣ Vũ Viết Vạn Xuân bảo về quyền lợi cho mình, đến ngày 07/11/2016 ông T đã có đơn từ chối mời luật sƣ Xuân tham gia với tƣ cách là ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông là phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của anh Lê Xuân H:

Ngày 22/11/2013, anh Lê Xuân H đã ký hợp đồng ủy quyền số 1295/2013/HĐCN tại Văn phòng Công chứng Quốc Thái, ủy quyền cho bố là ông Lê Xuân T với nội dung “toàn quyền quản lý, sử dụng,…chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, cho mượn…” nhà đất tại số 54 Vạn Phúc Thƣợng, tổ 10B, cụm 4, phƣờng Cống Vị, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Anh H cho rằng khi ký hợp đồng anh H không hiểu biết pháp luật một cách đầy đủ, không xác định đƣợc hậu quả pháp lý xảy ra và ảnh hƣởng đến quyền và lợi ích chính đáng của anh đối với nhà đất trên. Hội đồng xét xử nhận thấy khi ký hợp đồng ủy quyền anh H có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự và và năng lực hành vi dân sự, có toàn quyền tham gia và chịu trách nhiệm về các giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật do vậy, việc anh và ông T ký kết hợp đồng ủy quyền là hoàn toàn phù hợp quy định của pháp luật.

Theo anh H, trong quá trình quản lý ông T đã tự ý cho ngƣời lạ vào nhà ở, cho thuê nhà thu tiền mà không thông báo với anh, không giao lại tiền thuê nhà. Khi biết đƣợc sự việc xảy ra anh đã yêu cầu ông T giao lại bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho anh nhƣng ông T không giao lại mà báo là đã mất. Anh đã yêu cầu Văn phòng Công chứng Quốc Thái hủy hợp đồng ủy quyền nêu trên mà không có sự hợp tác của ông T. Văn phòng công chứng yêu cầu phải có sự thỏa thuận chấm dứt hợp đồng ủy quyền của ông T. Do vậy, anh làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết hủy hợp đồng ủy quyền số 1295/2013/HĐCN ngày 22/11/2013 tại Văn phòng công chứng Quốc Thái, thành phố Hà Nội ký giữa anh và ông Lê Xuân T.

Tại phiên tòa, ngƣời đại diện của bị đơn đề nghị hòa giải và đồng ý chấm dứt thực hiện hợp đồng ủy quyền tại thơi điểm xét xử, ngƣời đại diện của nguyên đơn không đồng ý hòa giải và đề nghị Tòa án xét xử theo quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử nhận thấy, trong quá trình thực hiện nội dung công việc đƣợc ủy quyền giữa ông T và anh H đã xảy ra mâu thuẫn, bất đồng không tin tƣởng đối với ngƣời đƣợc ủy quyền do vậy, ngƣời đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị chấm dứt thực hiện hợp đồng ủy quyền đã ký với ông T. Yêu cầu này phù hợp tại khoản 1 Điều 588 Bộ luật dân sự năm 2005.

Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử nhận thấy có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chấm dứt thực hiện hợp đồng ủy quyền số 1295/2013/HĐCN ngày 22/11/2013 tại Văn phòng công chứng Quốc Thái, thành phố Hà Nội ký giữa anh H và ông Lê Xuân T.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo về việc giao nộp chứng cứ cho nguyên đơn về việc cung cấp thông tin tại căn nhà số 54 Vạn Phúc Thƣợng, hiện nay đang có ngƣời khác đang thuê và sinh sống tại căn nhà có địa chỉ nêu trên. Tòa án đã có công văn gửi Sở Kế hoạch đầu tƣ xác minh tại số 54 Vạn Phúc Thƣợng, hiện có Công ty Cổ phần Prado đang hoạt động, chƣa đăng ký giải thể, qua xác minh thực tế không có hoạt động kinh doanh tại địa chỉ trên. Tại buổi xem xét thẩm định và định giá tài sản ngày 24/8/2017 anh Bùi Xuân Sơn đang ở tại địa chỉ trên và chứng kiến buổi xem xét thẩm định và định giá tài sản. Ngày 28/8/2017 anh Sơn có tự khai chỉ ở nhờ trong 02 tuần để xin việc và hiện nay anh không còn ở địa chỉ trên, anh không biết về tranh chấp đang xảy ra tại địa chỉ 54 Vạn Phúc Thƣợng và đề nghị không đƣa anh vào tham gia tố tụng.

Tòa án đã tiến hành xác minh tại Công an phƣờng Cống Vị có cung cấp: Tại địa chỉ 54 Vạn Phúc Thƣợng có anh Lê Xuân H và ông Lê Xuân T đang có đăng ký hộ khẩu thƣờng trú và không có ai đăng ký tạm trú tại địa chỉ trên. Do vậy, Tòa án không đƣa anh Bùi Xuân Sơn và Công ty Cổ phần Prado tham gia tố tụng.

[3] Đối với yêu cầu độc lập của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị L:

Nhận thấy: Giao dịch về thỏa thuận mua bán và chuyển nhƣợng quyền sử dụng nhà đất giữa ông T và bà L tại số 54 Vạn Phúc Thƣợng, bà L đã nhận nhà và ông T đã nhận đủ tiền bán nhà 4 tỷ đồng do bà L giao.

Thỏa thuận mua bán nhà và chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất giữa ông T và bà L chƣa phù hợp với theo quy định tại Điều 450 Bộ luật dân sự năm 2005 “Hợp đồng mua bán nhà ở phải được lập thành văn bản, có công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” và khoản 3 Điều 93 Luật nhà ở “Hợp đồng về nhà ở phải có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp huyện đối với nhà ở tại đô thị, chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã đối với nhà ở tại nông thôn, trừ các trường hợp…”

Căn cứ vào Điều 134 của Bộ luật dân sự năm 2005. Ngày 20/6/2017 Tòa án đã hoãn phiên tòa và thông báo cho các bên đƣơng sự thời hạn để tiến hành tiếp tục thực hiện hợp đồng tại cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền nhƣng các bên không thực hiện đƣợc. Vì vậy hợp đồng bị vô hiệu về mặt hình thức nên các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Tại phiên tòa ngƣời đại diện theo ủy quyền của bà L yêu cầu ông T và anh H phải liên đới hoàn trả bà số tiền bà đã bỏ ra mua nhà là 4 tỷ đồng và bà trả lại nhà đất tại số 54 Vạn Phúc Thƣợng và không yêu cầu bồi thƣờng thiệt hại hay tính lãi suất đối với số tiền đã giao cho ông T. Ngƣời đại diện theo ủy quyền của ông T cũng nhất trí với yêu cầu của ngƣời đại diện theo ủy quyền của bà L.

Ngƣời đại diện theo ủy quyền của anh H không đồng ý trách nhiệm liên đới cùng ông T trả bà L 4 tỷ đồng vì ông T đã vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng ủy quyền nên trách nhiệm trả lại tiền thuộc về ông T.

Nhận thấy: Việc thỏa thuận mua bán nhà đất giữa bà L và ông T là do ông T thực hiện đúng theo nội dung của Hợp đồng ủy quyền đƣợc ký kết giữa anh H và ông T. Việc thỏa thuận mua bán nhà giữa bà L và ông T chƣa thực hiện đúng theo quy định của pháp luật nhƣng các bên đã giao nhà và trả tiền mua bán nhà cho nhau. Khi thực hiện giao dịch trên thì ông T cũng chỉ với tƣ cách là ngƣời đƣợc ủy quyền còn chủ sở hữu tài sản vẫn là anh H. Khi anh H yêu cầu hủy hợp đồng ủy quyền cũng nhƣ có đơn đến cơ quan thẩm quyền để ngăn chặn việc chuyển nhƣợng căn nhà mà anh ủy quyền cho ông T đƣợc toàn quyền chuyển nhƣợng thì giữa ông T và bà L đã thực hiện việc giao dịch để chuyển nhƣợng nhà đất các bên đã giao nhận nhà và tiền cho nhau, nhƣng chƣa thực hiện đƣợc việc công chứng, chứng thực vì lý do anh H và ông T chƣa kê khai bổ sung cho đúng với thực tế và giấy phép xây dựng, đã xây ngôi nhà bê tông 5 tầng trên đất, còn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ ghi nhà 2 tầng cấp 4, diện tích xây dựng 22,6m2, diện tích sàn 32,2m2. Ông T có hứa với bà L sau khi đính chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với diện tích thực tế là 44,4m2 thì sẽ sang tên cho bà L. Còn việc sau này anh H không đồng ý ủy quyền cho ông T nữa và không đồng ý chuyển nhƣợng căn nhà trên thì bà L hoàn toàn không đƣợc biết. Bà L và ông T thực hiện việc thỏa thuận mua bán nhà và chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất vào ngày 26/11/2013, đến ngày 18/8/2015 anh H mới có đơn gửi đến Văn phòng đăng ký đất đai Hà Nội – Chi nhánh khu vực Ba Đình – Hoàn Kiếm – Đống Đa. Do vậy, bà L không biết và không buộc phải biết về việc anh H làm đơn nên bà không có lỗi trong giao dịch dân sự này.

Mặt khác, khi anh H đề nghị đơn phƣơng chấm dứt thực hiện hợp đồng ủy quyền đối với ông T thì anh H không thông báo cho bà L biết. Theo khoản 1 Điều 588 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “…Bên ủy quyền phải báo bằng văn bản cho người thứ ba biết về việc bên ủy quyền đơn phương chấm dứt thực hiên hợp đồng; nếu không báo, thì hợp đồng với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp người thứ ba biết hoặc phải biết về việc hợp đồng ủy quyền đã bị chấm dứt”. Vì vậy anh H và ông T phải liên đới chịu trách nhiệm hoàn trả cho bà L 4 tỷ đồng tiền bán nhà đất cho bà L là phù hợp thỏa thuận tại Điều 7.1 Hợp đồng ủy quyền “…..việc thực hiện nội dung ủy quyền này gây thiệt hại cho bên thứ ba nào khác thì bên ủy quyền hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật và phải bồi thường mọi thiệt hại gây ra” và trong đơn đề nghị đơn phƣơng Hủy hợp đồng ủy quyền ngày 18/8/2015 của anh H gửi tới Văn phòng công chứng Quốc Thái cũng đã ghi “ Trong trường hợp việc đơn phương chấm dứt Hợp đồng ủy quyền số công chứng 1295/2013/HĐCN này gây thiệt hại cho bên thứ ba thì tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật và phải bồi thường mọi thiệt hại gây ra”.

Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử nhận thấy không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Phạm Thị L về việc tiếp tục thực hiện thỏa thuận mua bán nhà và chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất, vì giao dịch dân sự thỏa thuận mua bán này bị vô hiệu. Chấp nhận yêu cầu của bà L buộc anh H và ông T phải liên đới hoàn trả cho bà L 4 tỷ đồng tiền bán nhà và bà L phải trả nhà đất tại 54 Vạn Phúc Thƣợng. Việc bàn giao tiền bán nhà đất và trả lại nhà đất đƣợc diễn ra cùng thời điểm.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Anh Lê Xuân H đƣợc hoàn trả án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện về việc chấm dứt thực hiện hợp đồng ủy quyền đƣợc chấp nhận.

Ông Lê Xuân T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện về việc chấm dứt thực hiện hợp đồng ủy quyền đƣợc chấp nhận.

Anh Lê Xuân H và ông Lê Xuân T phải chịu 112.000.000 (một trăm mƣời hai triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm do thỏa thuận về việc mua bán nhà và chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất bị vô hiệu.

Bà Phạm Thị L phải chịu án phí DSST đối với yêu cầu độc lập của bà không đƣợc chấp nhận.

Anh H, ông T, Văn phòng Công chứng Quốc Thái và bà L có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các căn cứ và nhận định của Hội đồng xét xử;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng các Điều 121. Điều 122, Điều 134, Điều 137, Điều 159, Điều 377, Điều 389, Điều 424, Điều 450, Điều 581, Điều 582, Điều 588, Điều 589, Điều 689 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 90; 91; 92; 93 và Điều 94 Luật nhà ở năm 2005;

- Áp dụng Điều 51 Luật công chứng;

- Áp dụng Điều 26; Điều 35, Điều 184; khoản 1 Điều 147 và Điều 271; 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

- Áp dụng Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Lê Xuân H đối với ông Lê Xuân T.

Tuyên bố: Chấm dứt thực hiện hợp đồng ủy quyền số: 1295/2013/HĐCN quyển số 04-TP/CC-SCC/HĐGD ngày 22/11/2013 tại Văn phòng Công chứng Quốc Thái, thành phố Hà Nội ký giữa anh Lê Xuân H và ông Lê Xuân T.

2. Không chấp nhận đơn yêu cầu độc lập của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị L về việc tiếp tục thực hiện thỏa thuận về việc mua bán nhà và chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đứng tên anh Lê Xuân H số BR 773235, số vào sổ cấp GCN: CH 001734/3106.QĐUB.2013 do UBND quận Ba Đình, thành phố Hà Nội cấp ngày 13/11/2013 giữa ông Lê Xuân T (ngƣời đại diện theo ủy quyền của anh Lê Xuân H) và bà Phạm Thị L ký ngày 26 tháng 11 năm 2013.

Thỏa thuận về việc mua bán nhà và chuyển nhƣợng quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đứng tên anh Lê Xuân H số BR 773235, số vào sổ cấp GCN: CH 001734/3106.QĐUB.2013 do UBND quận Ba Đình, thành phố Hà Nội cấp ngày 13/11/2013 giữa ông Lê Xuân T (ngƣời đại diện theo ủy quyền của anh Lê Xuân H) và bà Phạm Thị L ký ngày 26 tháng 11 năm 2013 vô hiệu.

Buộc anh Lê Xuân H và ông Lê Xuân T phải liên đới hoàn trả cho bà Phạm Thị L số tiền 4.000.000.000 (bốn tỷ) đồng và bà Phạm Thị L phải trả nhà đất tại số 54 Vạn Phúc Thƣợng, tổ 10B, cụm 4 phƣờng Cống Vị, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội cho anh Lê Xuân H và ông Lê Xuân T. Việc bàn giao tiền bán nhà đất và trả lại nhà đất đƣợc diễn ra cùng thời điểm.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Lê Xuân H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và đƣợc trả lại khoản tiền tạm ứng án phí đã nộp là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 8322 ngày 29 tháng 6 năm 2016 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Ông Lê Xuân T phải chịu 200.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Anh Lê Xuân H và ông Lê Xuân T phải chịu 112.000.000 (một trăm mƣời hai triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Phạm Thị L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm và đƣợc trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 7265 ngày 17 tháng 4 năm 2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trƣờng hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngƣời đƣơc thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho ngƣời đƣợc thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trƣờng hợp bản án có hiệu lực pháp luật đƣợc thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt ngƣời đại diện theo ủy quyền của bị đơn và ngƣời đại diện theo ủy quyền của ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày 18 tháng 9 năm 2017. Ngƣời đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt khi tuyên án,Văn phòng Công chứng Quốc Thái vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án./.

Cỡ chữ