vanban.org

Bản án 05 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H. Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Thanh T.

Về con chung: Tiếp tục giao cháu Nguyễn Thanh Q, sinh ngày 17/6/2004 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do phía chị H chưa có yêu cầu; anh T được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền cản trở. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H. Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Thanh T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ CAI LẬY

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH TIỀN GIANG
Bản án số: 05/2022 HNGĐ-ST
Ngày: 17 - 02 - 2022
V/v tranh chấp xin ly hôn,
nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY-TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông: Huỳnh Ngọc Trứ.

2/ Bà: Đặng Thị Tiềm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhàn - Cán bộ TAND thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Liễu - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 02 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 107/2021/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 03 năm 2021 về việc “Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2021 giữa các đương sự.

1/ Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1977; (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Số A, khu B, phường C, thị xã L, tỉnh Tiền Giang.

2/ Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1978; (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp M, xã H, thị xã L, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 24/3/2021 và lời khai thể hiện có trong hồ sơ, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Thanh T được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới và về chung sống với nhau từ năm 2003 có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Cai Lậy, theo giấy chứng nhận kết hôn số 407, quyển số 03 ngày 12/8/2004. Sau khi cưới về chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, vợ chồng có nhiều xung đột, thường xuyên cãi vã, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt; anh T là người chồng không có trách nhiệm với gia đình; vợ chồng ly thân và cắt đứt quan hệ vợ chồng từ đầu năm 2021 cho đến nay. Nay chị H yêu cầu xin được ly hôn với anh T vì cho rằng mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, không hàn gắn được nữa.

- Về con chung: Có 01 con tên Nguyễn Thanh Q, sinh ngày 17/6/2004. Nếu ly hôn chị H yêu cầu được tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Theo chị H không có, nên không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Thanh T dù đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gởi cho Tòa án.

Về phía đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến và cho rằng trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa hôm nay; Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các thủ tục theo pháp luật tố tụng quy định nên không có đề nghị gì.

Về ý kiến của phía đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Thanh T.

Về con chung: Tiếp tục giao cháu Nguyễn Thanh Q, sinh ngày 17/6/2004 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do phía chị H chưa có yêu cầu; anh T được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Theo chị H khai không có, nên không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết. Phía bị đơn anh T thì vắng mặt tại phiên tòa và cũng không có ý kiến gởi cho Tòa án, nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét để giải quyết

Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở lời trình bày của các đương sự, các tài liệu chứng cứ được đưa ra xem xét tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp: Xác định đây là tranh chấp xin ly hôn, nuôi con chung.

Về thủ tục tố tụng: Việc vắng mặt nguyên đơn chị Nguyễn Thị H và bị đơn anh Nguyễn Thanh T. Xét thấy, nguyên đơn chị H có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh T đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt phía nguyên đơn chị H, bị đơn anh T.

Về yêu cầu của nguyên đơn: yêu cầu xin được ly hôn với anh Nguyễn Thanh T. Xét thấy, nguyên đơn chị H vắng mặt tại phiên tòa hôm nay, nhưng có lời khai thể hiện trong hồ sơ là yêu cầu xin được ly hôn với anh Tung, vì cho rằng mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, không hàn gắn được nữa. Phía anh T thì vắng mặt tại phiên tòa và cũng không có ý kiến gởi cho Tòa án. Xét thấy, trong thời gian Tòa án thụ lý vụ án, đã triệu tập phía anh T nhiều lần đến để hòa giải về việc chị H xin ly hôn với anh T. Nếu như về tình cảm vợ chồng, anh T muốn vợ chồng đoàn tụ lại thì anh T phải đến Tòa án để gặp chị H, để hòa giải về tình cảm vợ chồng xem có khả năng đoàn tụ hàn gắn lại được hay không nhưng phía anh T không đến, thể hiện anh T không còn quan tâm đến tình cảm vợ chồng đối với chị H. Ngoài ra, anh T và chị H đã ly thân và cắt đứt quan hệ vợ chồng từ đầu năm 2021 cho đến nay đã hơn 01 năm. Cho thấy, về tình cảm vợ chồng giữa anh T và chị H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; nên Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H và cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Thanh T.

Về con chung: 01 con tên Nguyễn Thanh Q, sinh ngày 17/6/2004. Nếu ly hôn chị H yêu cầu được tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, cháu Q do chị H nuôi dưỡng từ khi anh T và chị H ly thân với nhau cho đến nay đã ổn định về mọi mặt. Hơn nữa, qua tham khảo lời khai của cháu Q cũng có nguyện vọng xin được sống chung với chị H; nên Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ giao cháu Nguyễn Thanh Q cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con do phía chị H chưa có yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét để giải quyết. Nếu sau này chị H có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con thì chị H được quyền khởi kiện bằng một vụ kiện khác khi có đơn yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Theo chị H khai không có, nên không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết. Phía bị đơn anh T thì vắng mặt tại phiên tòa và cũng không có ý kiến gởi cho Tòa án, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét để giải quyết. Nếu sau này phía anh T cho rằng vợ chồng có tài sản chung và nợ chung nhưng không thỏa thuận được với nhau và có tranh chấp thì được quyền làm đơn khởi kiện bằng một vụ kiện khác khi có đơn yêu cầu.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí xin ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xét ý kiến và đề nghị của phía đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận đề nghị của phía đại diện Viện kiểm sát.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, 271, 272 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H. Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Thanh T.

2. Về con chung: Tiếp tục giao cháu Nguyễn Thanh Q, sinh ngày 17/6/2004 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con do phía chị H chưa có yêu cầu; anh T được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền cản trở.

3. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí xin ly hôn, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà chị H đã nộp theo biên lai thu số 0006899 ngày 24/3/2021 của Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Cai Lậy; nên chị H đã nộp xong án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ