- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Nguyên đơn Ngân hàng AGrinkban và bị đơn Vi Quang T"
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án: 05/2023/DS- ST Ngày 29/4/ 2023 V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG – TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Toàn Các Hội thẩm nhân dân : 1/ Bà Hoàng Thị Việt Hà 2/ Ông Lã Văn Minh
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Viết chung– Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Động.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động tham gia phiên toà: Ông Vương Văn Phong - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn
Động, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 62/2022/TLST- DS, ngày 29/11/2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2023/QĐXX – ST, ngày 23 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
(viết tắt: Agribank), do ông Nông Văn T – Chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng Agribank Chi nhánh tại huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang II là người đại diện theo ủy quyền; Có đơn xin vắng mặt. Địa chỉ: Khu 3, thị trấn A, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
- Bị đơn: Ông Ngô Quang T, sinh năm 1960; có mặt
Bà Vi Thị H, sinh năm 1960; có mặt Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Trong đơn khởi kiện, các lời khai tiếp theo có trong hồ sơ đại diện
nguyên đơn ông Nông Văn T trình bày:
Ngày 02/3/2021, Ngân hàng Agribank chi nhánh huyện Sơn Động, Bắc
Giang II có cho vợ chồng ông Ngô Quang T, bà Vi Thị H vay số tiền là 200.000.000đ, mục đích là chăn nuôi, phục vụ đời sống gia đình, thời hạn vay là 36 tháng, ngày trả nợ cuối cùng là ngày 02/3/2024; quá trình vay đã trả nợ gốc 5.000.000đ, lãi đã trả được 1 phần.
Khi đến hạn thanh toán trả tiền gốc và lãi theo chu kỳ ông T, bà H không
thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng. Đến ngày 29/3/2023 dư nợ của ông T, bà H tiền gốc là 195.000.000đ + tiền lãi 33.089.740đ.
Ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết, buộc ông T, bà H phải có trách
nhiệm trả cho ngân hàng số tiền tính đến ngày 22/02/2023, tiền gốc là 195.000.000đ + tiền lãi 33.089.740đ.
2. Tại biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa bị đơn ông T, bà H trình bày:
Ngày 02/3/2021, vợ chồng ông bà có làm hồ sơ và vay tiền của Ngân
hàng Agribank chi nhánh huyện Sơn Động, Bắc Giang II số tiền là 200.000.000đ, mục đích là chăn nuôi và phục vụ đời sống gia đình, thời hạn vay là 36 tháng, ngày trả nợ cuối cùng là ngày 02/3/2024; quá trình vay đã trả nợ gốc 5.000.000đ. lãi đã trả được 1 phần.
Khi đến hạn chu kỳ thanh toán tiền gốc và lãi ông bà chưa thanh toán trả
cho Ngân hàng đúng thời hạn, nguyên nhân do làm ăn khó khăn. Đến ngày 29/3/2023 dư nợ của ông bà tiền gốc là 195.000.000đ + tiền lãi 33.089.740đ.
Ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết, buộc ông bà phải trả cho ngân hàng
số tiền gốc là 195.000.000đ + tiền lãi 33.089.740đ ông bà nhất trí, nhưng ông bà chưa trả ngay được mà xin trả dần.
3. Tại phiên tòa Đại diện của Viện kiểm sát phát biểu về tố tụng và quan
điểm việc giải quyết vụ án như sau:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ
án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến kết thúc phần tranh luận chuyển vào nghị án; Thẩm phán, Hội đồng xét xử cũng như việc chấp hành pháp luật của nguyên thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về giải quyết vụ án: Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều
39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117, Điều 122, Điều 131; Khoản 2 Điều 212; Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 Luật tổ chức tín dụng; Điểm đ khoản 1 điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Chấp nhận đơn khởi kiện của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông
thôn Việt Nam (viết tắng: Agribank), do ông Nông Văn T – Chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng Agribank Chi nhánh tại huyện Sơn Động, Bắc Giang II là người đại diện theo ủy quyền; buộc ông Ngô Quang T, bà Vi Thị H phải trả cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, chi Nhánh huyện Sơn Động tiền gốc, lãi tính đến ngày 29/3/2023 là: Tiền gốc là 195.000.000đ + tiền lãi 33.089.740đ và lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong nợ và các khoản chi phí tố tụng khác.
Ngoài ra còn đề nghị về án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN;
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại
phiên toà và lời khai của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về tố tụng:
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (viết tắt:
Agribank), ủy quyền cho ông Nông Văn T – Chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng Agribank Chi nhánh tại huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang II là người khởi kiện và tham gia tố tụng tại Quyết định số 2965/QĐ-HĐTV-PC ngày 27/12/2019 của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam là đúng theo quy định tại Điều 138 của Bộ luật Dân sự, cần được chấp nhận.
Bị đơn ông Nông Văn T có đơn xin xét xử vắng mặt, Tòa án xét xử vụ án
vắng mặt ông Thực theo khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
2. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngân hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn Việt Nam khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Sơn Động giải quyết, buộc ông Ngô Quang T, bà Vi Thị H phải trả tiền gốc vay và có yêu cầu tính lãi, ông T, bà H vay là để chăn nuôi, phục vụ sản xuất đời sống. Xét đây là “tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự..
3. Về nội dung vụ án:
3.1 Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam khởi kiện
ông Ngô Quang T, bà Vi Thị H yêu cầu trả khoản vay theo hợp đồng tín dụng, nhưng đến thời hạn chu kỳ trả nợ ông Ngô Quang T, bà Vi Thị H không trả nợ gốc và lãi. Do ông Ngô Quang T, bà Vi Thị H vi phạm cam kết trả nợ, Căn cứ vào Điều 35 và Điều 186 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Ngân hàng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo luật định.
3.2. Xét hợp đồng tín dụng: Theo hồ sơ, tài liệu trong hồ sơ vụ án thì
ngày 02/3/2021 ông Ngô Quang T, bà Vi Thị H có ký hợp đồng vay vốn tại Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang (Viết tắt là Agribank), nay là Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang II, số tiền vay là 200.000.000đ, theo HĐTD số 2509LAV202100363 ngày 02/3/2021. thời hạn vay là 36 tháng, ngày trả nợ cuối cùng là ngày 02/3/2024.
Mục đích ông T, bà H vay về để chăn nuôi, phục vụ đời sống gia đình.
Hai bên đều hoàn toàn tự nguyện và tuân thủ đúng các quy định của pháp luật cả về nội dung và hình thức hợp đồng; căn cứ khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự, công nhận hợp đồng tín dụng được lập giữa ông Ngô Quang T, bà Vi Thị H và Ngân hàng Agribank – Chi nhánh huyện Sơn Động là có thật và hợp pháp.
3.3. Về số tiền vay: Căn cứ vào hợp đồng tín dụng ngày 02/3/2021 do
ông Ngô Quang T, bà Vi Thị H ký vay vốn tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Chi nhánh huyện Sơn Động, số tiền vay là 200.000.000đ, theo Hợp đồng số 2509LAV201801533. Từ ngày vay đến ngày 22/02/2023 ông Tường, bà Hiệp đã trả gốc được 5.000.000đ và 1 phần lãi; đến chu kỳ thanh toán tiếp theo ông T, bà H không trả tiền lãi và gốc như trong hợp đồng tín dụng. Tính đến ngày 29/3/2023 ông Ngô Quang T, bà Vi Thị H còn nợ Ngân hàng Agribank tổng số tiền là tiền gốc là 195.000.000đ + tiền lãi 33.089.740đ.
Từ những phân tích trên, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
bên nguyên đơn Ngân hàng Agribank, Chi nhánh tại huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang II, về việc yêu cầu bị đơn phải trả số tiền vay gốc và lãi tính đến ngày 29/3/2023, tiền gốc là 195.000.000đ + tiền lãi 33.089.740đ và lãi phát sinh theo hơp đồng tín dụng cho đến khi trả xong nợ, theo quy định tại Điều 463, 466, 468, 470 của Bộ luật Dân sự.
4. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên
bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, nhưng ông T, bà H là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ án phí DSST. Hoàn trả cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang II số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH;
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều
227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 117, Điều 122, Điều 131; Khoản 2 Điều 212; Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 Luật tổ chức tín dụng; Điểm đ khoản 1 điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử:
1. Chấp nhận đơn khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển
nông thôn Việt Nam – Chi nhánh tại huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang II.
Buộc ông Ngô Quang T, bà Vi Thị H phải trả cho Ngân hàng Nông
nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh tại huyện Sơn Động tiền gốc + lãi tính đến ngày 29/3/2023, cụ thể: Tiền gốc là 195.000.000đ (Một trăm, chín mươi lăm triệu đồng chẵn) + tiền lãi 33.089.740đ (Ba mươi ba triệu, không trăm tám mươi chín nghìn, bấy trăm bốn mươi đồng).
Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ
thẩm ông Ngô Quang T, bà Vi Thị H còn phải tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất ông Ngô Quang T, bà Vi Thị H phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Về án phí: Ông Ngô Quang T, bà Vi Thị H được miễn toàn bộ án phí
DSST.
Hoàn trả cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
– Chi nhánh huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang II số tiền đã nộp tạm ứng án phí là 5.465.000đ (Năm triệu, bốn trăm sáu mươi lăm nghìn đồng), theo biên lai số 0015443 ngày 25/11/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Động.
Án xử sơ thẩm công khai. Báo cho đương sự có mặt có quyền kháng cáo
bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết ./.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Sơn Động; - Chi cục THADS huyện Sơn Động; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Toàn |