vanban.org

Bản án 05/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Tăng Văn H, sinh ngày 20/4/1997; Nơi cư trú: xóm G, xã M, tỉnh Nghệ An.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (Mười lăm) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 12/3/2026). Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định là 05 ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết đị… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Anh Tăng Văn H bị áp dụng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Tăng Văn H, sinh ngày 20/4/1997; Nơi cư trú: xóm G, xã M, tỉnh Nghệ An.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 – ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 05/QĐ-TAĐà Nẵng, ngày 14 tháng 4 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – ĐÀ NẴNG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán chủ trì phiên họp: bà Nguyễn Thị Mai Loan.

2. Thư ký phiên họp: bà Hồ Thị Hoàng Sa.

Ngày 14 tháng 4 năm 2026, tại Cơ sở cai nghiện số 02 - thành phố Đà Nẵng, Tòa án nhân dân khu vực 6 - Đà Nẵng tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 05/2026/QĐ-TA ngày 07 tháng 4 năm 2026 đối với: Họ và tên: Tăng Văn H, sinh ngày 20 tháng 4 năm 1997; Giới tính: nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 9/12; Căn cước công dân số: 040097012012, nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội; nơi cư trú: xóm G, xã M, tỉnh Nghệ An; chỗ ở hiện tại: không có nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: lao động tự do; Con ông Tăng Đình C, sinh năm 1961 và bà Vũ Thị M, sinh năm 1969; vợ Trương Thị Hồng N, sinh năm 1997, có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2019, nhỏ nhất sinh năm 2020. Tiền án, tiền sự: không. Có mặt.Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị Công an xã Q, thành phố Đà Nẵng: ông Nguyễn Ngọc H1, chức vụ: cán bộ thuộc Công an xã Q (theo giấy ủy quyền ngày 13/4/2026).

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Đà Nẵng: bà Lê Thị Mai Trương - Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY

Lúc 07 giờ 00 phút ngày 12/3/2026, công an xã Q trên tuyến đường ĐT611 thì phát hiện một thanh niên đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn nên kiểm tra. Qua kiểm tra, nam thanh niên khai tên Tăng Văn H, có hộ khẩu thường trú tại xóm G, xã M, tỉnh Nghệ An. Vào khoảng 18 giờ ngày 11/3/2026, anh H đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, loại ma túy: Methaphetamine (ma túy đá), hình thức sử dụng: hút tại cánh đồng gần nhà. Công an xã đã đưa H về trụ sở, test nhanh ma túy có trong nước tiểu cho kết quả dương tính. Qua xác minh với công an xã M được biết, H có hộ khẩu tại địa phương, nhưng thường xuyên không có mặt tại nơi cư trú, không đăng ký tạm trú ở địa phương khác và không thuộc diện quản lý về ma túy theo Điều 256A Bộ luật Hình sự; chưa có thông tin về tiền án, tiền sự. Ngày 12/3/2026, công an xã Q Trung lập hồ sơ đưa H đến Trung tâm y tế K để tiến hành xác định tình trạng nghiện. Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Trung tâm y tế K xác định anh H nghiện ma túy tổng hợp, nhóm Methamphetamine. Công an xã Q thông báo kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của H và hướng dẫn anh thực hiện đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất thuốc phiện bằng thuốc thay thế tại Ủy ban nhân dân xã Q trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày 12/3/2026 theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Nghị định 116/2021/Đ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ. Tuy nhiên, H có đơn từ chối đăng ký cai nghiện tự nguyện. Do đó, Công an xã Q Trung lập biên bản vi phạm về việc cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đối với H.

Ngày 26/3/2026, Trưởng Công an xã Q có đề nghị số 01/ĐN-CNBB về xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh H.

Tại bản tường trình ngày 12/3/2026, anh H thừa nhận: vào lúc 18 giờ ngày 11/3/2026, anh có sử dụng 03 viên Hồng phiến tại cánh đồng gần nhà. Sau khi sử dụng xong, anh ra đường bắt xe khách vào thành phố Hồ Chí Minh. Đến địa phận thành phố Đà Nẵng, anh H xuống xe, đi bộ trên đường Đ, thuộc xã Q thì bị công an mời làm việc.

Tại phiên họp, đại diện cơ quan đề nghị - ông Nguyễn Ngọc H1 trình bày ý kiến: anh H có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, loại Methaphetamine (ma túy đá) và không đăng ký cai nghiện tự nguyện, vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy. Trong quá trình làm việc, anh H tự nguyện khai báo. Vì vậy, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh H, thời hạn từ 12 đến 15 tháng.

Người bị đề nghị anh H trình bày ý kiến: thống nhất với ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh H đúng trình tự, thủ tục và hợp pháp. Thẩm phán được phân công đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp nên đề nghị Thẩm phán áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh H, thời hạn từ 12 đến 15 tháng.

Căn cứ hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của những người tham gia phiên họp.

XÉT THẤY

Tại phiên họp, anh H thừa nhận: anh có hộ khẩu thường trú tại xóm G, xã M, tỉnh Nghệ An, nhưng thường xuyên không có mặt tại nơi cư trú. Ngày 11/3/2026, anh H đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, loại ma túy: Methaphetamine (ma túy đá), hình thức sử dụng: hút. Tại phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 12/3/2026 của Trung tâm y tế K xác định anh H nghiện ma túy tổng hợp, nhóm Methamphetamine. Công an xã Q Trung lập biên bản làm việc và giải thích cho anh H phải đăng ký cai nghiện tự nguyện, đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật phòng, chống ma túy. Anh H có đơn từ chối cai nghiện tự nguyện. Do đó, đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh H của Công an xã Q theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy là có căn cứ; việc lập hồ sơ đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc được thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 103, 104 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2025, các Điều 7 và 8 Thông tư liên tịch 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01 tháng 3 năm 2025 Quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường G, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước và các Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; các chứng cứ có trong hồ sơ đầy đủ, rõ ràng; thời hiệu và đối tượng áp dụng biện pháp xử lý hành chính là phù hợp.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm thì thấy: anh H nhận thức rõ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện để thỏa mãn nhu cầu sử dụng chất ma túy. Hành vi của anh là nguy hiểm cho xã hội, có thể lôi kéo thêm nhiều người khác sử dụng trái phép chất ma túy, làm gia tăng số lượng người nghiện và ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, mức độ nhận thức của anh H thì thấy: trong quá trình làm việc và tại phiên họp, anh H đã tự nguyện khai báo, bản thân có con nhỏ nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về ý kiến của đại diện Công an xã Q và đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Đà Nẵng tại phiên họp là có căn cứ theo quy định của pháp luật.

Từ những nhận định trên, căn cứ vào khoản 2 Điều 9, Điều 95, Điều 96, 103, 104 và Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung năm 2025; khoản 1 Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy; các Điều 3 và 23 của Pháp lệnh số 149/VBHN-VPQH ngày 05 tháng 9 năm 2025 của Văn phòng Quốc hội quy định trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; các Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số Điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy và các Điều 7 và 8 Thông tư liên tịch 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01 tháng 3 năm 2025 Quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường G, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước, chấp nhận đề nghị của Công an xã Q về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Tăng Văn H.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Tăng Văn H, sinh ngày 20/4/1997; Nơi cư trú: xóm G, xã M, tỉnh Nghệ An.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (Mười lăm) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 12/3/2026).

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định là 05 ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an xã Q, thành phố Đà Nẵng đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ