- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ Nguyễn văn Nh Tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyên Văn Nh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 255 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI LĂNG TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2021/HS-ST Ngày 25/3/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Khánh
Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Trung Văn - Giáo viên nghỉ hưu
- Ông Nguyễn Hùng Mạnh - Cán bộ Trung tâm VHTT- TDTT huyện Hải Lăng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Chấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Lăng tham gia phiên toà: Ông Lê Đức Bát - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2021, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 29/2020/HS-ST ngày 25/11/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2021/HS-ST ngày 11/3/2021 và Thông báo hoãn phiên tòa số 02/2021/HS-QĐ ngày 16/3/2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Nh, tên gọi khác: Không, sinh ngày 11 tháng 12 năm 1998 tại Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn Ph, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1967 (trú tại: Xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị) và con bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1976 (trú tại: Xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị); gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án: Ngày 03/7/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 06/2019/HS-ST.
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 14/12/2018, bị Công an huyện Hải Lăng ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” với số tiền phạt 750.000 đồng.
- Ngày 27/02/2019, bị Công an huyện Hải Lăng ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy” với số tiền phạt 2.250.000 đồng.
- Ngày 28/3/2019, bị Công an huyện Hải Lăng ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” và “Sử dụng trái phép chất ma túy” với số tiền phạt 2.250.000 đồng.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/5/2020 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1976; trú tại: Thôn Ph, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
Người làm chứng:
- Anh: Lê Văn N, sinh năm 2000; trú tại: K 1, ph 1, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
- Anh: Nguyễn Thanh Q, sinh năm 2003; trú tại: K 1, ph 1, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của anh Nguyễn Thanh Q là ông Nguyễn Thanh H (bố anh Q) và bà Nguyễn Thị H (mẹ anh Q); cùng trú tại: K 1, ph 1, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 17/5/2020, Nguyễn Văn Nh điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 74F1-300.36 của bà Nguyễn Thị L (là mẹ đẻ) đi từ nhà nghỉ Lá Vàng ra thành phố Đông Hà mua ma túy về sử dụng. Khoảng 14 giờ cùng ngày, khi đến đoạn giao nhau giữa đường Hùng Vương và đường Ngô Quyền thuộc thành phố Đông Hà, Nh mua của hai người đàn ông không quen biết 23 viên ma túy đựng trong ống nhựa với giá 1.800.000 đồng.
Sau khi mua được ma túy, Nh về lại nhà nghỉ Lá Vàng, vào phòng số 3 lấy một chai nước lọc, đục một lỗ trên thân vỏ và lấy một tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng cuộn tròn, gắn vào lỗ thủng trên thân chai rồi đổ nước vào để làm dụng cụ sử dụng ma túy. Nh lấy ra 05 viên ma túy sử dụng rồi lấy điện thoại của bà Liên gọi cho Lê Văn N hẹn đến cùng sử dụng ma túy. Lúc này, N đang ở nhà cùng với Nguyễn Thanh Q; Nam rủ Q đi chơi cùng nhưng không nói rõ đi đâu, làm gì. Khi N và Q đến, Nhân lấy ra 05 viên ma túy cùng N sử dụng, thấy vậy Q cũng tự ý lấy để sử dụng thì Nh không nói gì. Sau khi sử dụng, còn lại 13 viên ma túy trong ống nhựa, Nhân cất giấu ở giường phía sau lưng chỗ Nh ngồi.
Đến 17 giờ cùng ngày, tổ công tác Công an huyện Hải Lăng phát hiện và thu giữ 13 viên ma túy và các dụng cụ để sử dụng ma túy.
Tại Bản kết luận giám định số 399/KLGĐ ngày 21/5/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận: 13 viên nén màu hồng có khối lượng 1,3930g là ma túy, loại Methamphetamine.
Tại Bản cáo trạng số 29/CT-VKS-HL, ngày 25/11/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Lăng đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Nh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu. Tuy nhiên, bị cáo cho rằng, sau khi một mình sử dụng 05 viên ma túy đầu tiên thì bị cáo đã rơi vào tình trạng ảo giác nên khi N và Q đến, bị cáo không còn khả năng làm chủ bản thân, việc Q tự ý lấy ma túy để dùng là ngoài ý chí của bị cáo vì bị cáo không mời Q; Q cũng không xin phép bị cáo. Mặt khác, ý thức của bị cáo chỉ rủ N đến để sử dụng ma túy chứ không rủ Q vì bị cáo không hề quen biết Q.
Kiểm sát viên giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo từ 18 đến 20 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội từ 09 năm 06 tháng đến 10 năm 02 tháng tù.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 45 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ chai nhựa trong suốt, không nhãn hiệu, cao 20cm, đường kính đáy chai 05cm, đường kính miệng chai 2,5cm, không có nắp; trên thân chai có một lỗ thủng cách đáy chai 5,5cm, chai nhựa bị méo mó; 01 túi niêm phong có ký hiệu PS3 057926, bên trong túi có chứa 1,0742gam chất bột màu hồng, là ma túy loại Methamphetamine; 01 bật lửa gas, vỏ màu đỏ, đã qua sử dụng, bên trên thân bật lữa có chữ “555 VIP”; 01 cái kéo có lưỡi bằng kim loại dài 6,5cm, cán bằng nhựa màu vàng – đen, đã qua sử dụng.
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: Số tiền 2.000 đồng; 01 điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Realme, vỏ màu xanh, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, vỏ máy màu xanh đen, có số IMEL1: 866892026936578, số IMEL2: 866892026936560, đã qua sử dụng.
- Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, võ máy màu đen, đã qua sử dụng, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Trả lại cho bà Nguyễn Thị L: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, BKS 74F1 – 300.36, màu đen -trắng, số khung; RLHJF 6318HZ057161, số máy: JF63E2341448, xe đã qua sử dụng.
Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận đối với lời luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đối với tình tiết định khung hình phạt tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự vì bị cáo chỉ rủ một mình N đến nhà nghỉ Lá Vàng để sử dụng ma túy, việc Q đi theo N và tự ý lấy ma túy để sử dụng là ngoài ý thức chủ quan của bị cáo. Ngoài ra, bị cáo còn xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 17/5/2020, Nguyễn Văn Nh đi từ nhà ra thành phố Đ mua của hai người đàn ông không quen biết 23 viên ma túy loại Methamphetamine với giá 1.800.000đồng. Nh một mình sử dụng hết 05 viên; gọi điện rủ N, tự nguyện bỏ ra 05 viên ma túy cùng N, Q sử dụng hết thì bị Công an huyện Hải Lăng phát hiện, bắt quả tang và thu giữ 13 viên ma túy còn lại khối lượng 1,3930g, loại Methamphetamine.
Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn Nh đã đủ yếu tố cấu thành tội tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”: Theo quy định tại tiểu mục 2.4 và tiểu mục 6.1 của Thông tư 17/2007 ngày 24/12/2007 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVII “Các tội về ma túy” của Bộ luật Hình sự 1999 quy định:
2.4. Tình tiết phạm tội đối với nhiều người quy định tại các Điều 197, 198 và 200 của Bộ luật Hình sự được hiểu là trong một lần phạm tội, người phạm tội đã thực hiện tội phạm đối với từ hai người trở lên …
6.1. Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là một trong các hành vi sau đây:
a) ...
b) Chỉ huy, phân công, điều hành việc chuẩn bị, cung cấp chất ma túy, địa điểm, phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy, tìm người sử dụng chất ma túy.
Căn cứ lời khai của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu khác lưu trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Sau khi một mình sử dụng hết 05 viên ma túy, bị cáo đã rơi vào tình trạng ảo giác, mất khả năng nhận thức và không còn làm chủ được hành vi. Bị cáo gọi điện thoại rủ Lê Văn N đến cùng sử dụng ma túy là vì N là bạn nghiện và gọi theo quán tính. Hơn nữa, ý thức của bị cáo chỉ rủ một mình N, việc Nguyễn Thanh Qg đi cùng Lê Văn N đến nhà của bị cáo là ngoài ý thức chủ quan của bị cáo, bị cáo không hề quen biết Q. Khi gặp Q, bị cáo cũng không mời Q sử dụng và Q cũng không hề xin bị cáo ma túy để sử dụng, việc bị cáo không can ngăn Q khi Q tự ý lấy ma túy để sử dụng là vì sau khi sử dụng ma túy bị cáo không làm chủ được hành vi. Do đó, hành vi của bị cáo chỉ cấu thành tội“Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Lăng truy tố bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 là chưa đủ căn cứ nên Tòa án nhân dân huyện Hải Lăng đưa xét xử bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
[2] Đối với các hành vi, quyết định tố tụng khác của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Hải Lăng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Lăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, tình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định đó đều hợp pháp.
[3] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa tích nhưng tiếp tục phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Hành vi của bị cáo không những gây mất trật tự trị an trên địa bàn mà còn kéo theo nhiều tệ nạn khác, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Do đó, cần xử lý nghiêm, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.
[6] Đối với Lê Văn Nvà Nguyễn Thanh Q: Sau khi có kết quả xét nghiệm dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine, Công an huyện Hải Lăng đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” đối với N và Q là phù hợp pháp luật.
[7] Nguyễn Văn Nh mua ma túy của 02 người đàn ông ở thành phố Đông Hà nhưng không rõ tên tuổi, địa chỉ. Công an huyện Hải Lăng đã tiến hành xác minh nhưng không có kết quả, lúc nào có kết quả sẽ xử lý sau.
[8] Chiếc xe mô tô biển kiểm sát 74F1 - 300.36 Nhân dùng để đi mua ma túy và chiếc điện thoại nhân sử dụng để liên lạc với Lê Văn N; nhà nghỉ Lá Vàng đều là tài sản của bà Nguyễn Thị L – mẹ đẻ bị cáo. Do bà L không biết bị cáo sử dụng xe mô tô, điện thoại và phòng nghỉ tại nhà nghỉ Lá Vàng làm công cụ, phương tiện phạm tội nên không có cơ sở để xem xét, xử lý đối với bà L.
[9] Quá trình điều tra, Lê Văn N khai nhận đã rủ Nguyễn Thanh Q đến Nhà nghỉ Lá Vàng chơi nhưng không có ý định rủ rê, lôi kéo, dụ dỗ Q vào phòng sử dụng ma túy. Việc Q sử dụng ma túy là do Q tự ý, ham thích. Do đó, chưa đủ cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với N.
[10] Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: 01 túi niêm phong có ký hiệu PS3 057926, bên trong túi có chứa 1,0742gam ma túy loại Methamphetamine hoàn lại sau giám định; 01 vỏ chai nhựa trong suốt, không nhãn hiệu, cao 20cm, đường kính đáy chai 0,5cm, đường kính miệng chai 2,5cm; 01 bật lửa gas, 01 cái kéo có lưỡi bằng kim loại là vật cấm lưu hành hoặc không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy
- Số tiền 2.000 đồng của bị cáo; 01 điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Realme, vỏ màu xanh của Lê Văn N liên quan đến việc sử dụng trái phép chất ma túy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO của bà Nguyễn Thị L, bà L không có nhu cầu nhận lại nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
- Điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
- Xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, BKS 74F1 – 300.36: Bà Nguyễn Thị L không biết bị cáo lấy xe để đi mua ma túy nên trả lại cho bà L là phù hợp.
[11] Cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.
[12] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự
1. Tuyên bố bị cáo Nguyên Văn Nh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Nh 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Nguyễn Văn Nh phải chấp hành hình phạt chung là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày từ ngày 17/5/2020.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 45 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 vỏ chai nhựa trong suốt, không nhãn hiệu, cao 20cm, đường kính đáy chai 05cm, đường kính miệng chai 2,5cm, không có nắp; trên thân chai có một lỗ thủng cách đáy chai 5,5cm, chai bị méo mó; 01 túi niêm phong có ký hiệu PS3 057926, bên ngoài có dấu của Phòng kỹ thuật công an tỉnh Quảng Trị và chữ ký của những người tham gia niêm phong, bên trong túi có chứa 1,0742gam chất bột màu hồng, là ma túy loại Methamphetamine được cho vào túi nilon trong suốt, kín miệng; 01 bật lữa gas, vỏ màu đỏ, đã qua sử dụng, bên trên thân bật lữa có chữ “555 VIP”; 01 cái kéo có lưỡi bằng kim loại dài 6,5cm, cán bằng nhựa màu vàng – đen, đã qua sử dụng.
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: Số tiền 2.000 đồng; 01 điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Realme, võ màu xanh, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, vỏ máy màu xanh đen, có số IMEL1: 866892026936578, số IMEL2: 866892026936560, đã qua sử dụng.
- Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, võ máy màu đen, đã qua sử dụng, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho nghĩa vụ thi hành án.
- Trả lại cho bà Nguyễn Thị L: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, BKS 74F1 – 300.36, màu đen – trắng, số khung: RLHJF 6318HZ057161, số máy JF63E2341448, xe đã qua sử dụng.
(Vật chứng trên được mô tả theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/11/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hải Lăng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Lăng. Riêng số tiền 2.000 đồng hiện có tại tài khoản số 3949.0.9017075.00000 của Công an huyện Hải Lăng mở tại Kho bạc nhà nước huyện Hải Lăng).
4. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Nh phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Quảng Trị; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị; - CA, VKSND, THADS huyện Hải Lăng; - Người tham gia tố tụng; - THA hình sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lê Thanh Khánh |