- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Việt Anh - Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 21/QĐ-VKSBD-P7 ngày 07 tháng 11 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2025/HS-PT Ngày 10-01-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng.
Các Thẩm phán: Ông Trương Văn Lộc;
Ông Nguyễn Huỳnh Đức.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Huyền Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 01 năm 2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 261/2024/TLPT-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Đặng Việt A do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 228/2023/HS-ST ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Bị cáo: Đặng Việt A (tên gọi khác: V), sinh năm 1976, tại thành phố Hà Nội; số CCCD: 026076005824, ngày cấp 25/4/2021; nơi cư trú: số A đường C, Tổ B, khu phố F, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: quản lý sản xuất; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Quốc T (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1; có vợ: Nguyễn Thị Thu S (đã ly hôn) và có 01 người con, sinh năm 2019; tiền án, tiền sự, nhân thân: không. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có những người thừa kế của bị hại do không kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ông Trần Vũ H, sinh năm 1984, nơi cư trú tại số H đường L, Tổ D, khu phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương và ông Trần Văn S1 (thường gọi là L), sinh năm 1968, nơi cư trú tại số B, khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nơi ở hiện tại số A, đường Đ, Tổ G, Ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương cùng là tài xế lái xe taxi cho Công ty T3 từ năm 2011 nên cả hai có mối quan hệ quen biết nhau.
Khoảng 18 giờ ngày 16/8/2016, khi ông H và ông S1 đang đỗ xe trước quán ăn H1, địa chỉ tại đường T, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương để đón khách thì Đặng Việt A (tên thường gọi là V) gọi điện thoại kêu ông H đến quán ăn N1, địa chỉ tại khu phố B, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương để thanh toán số tiền 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) mà trước đó Việt A còn thiếu của ông H khi thuê xe taxi của ông H chở đi du lịch tại M - Đ - Bến Tre. Sau đó, ông H rủ ông S1 cùng đi đến quán ăn N1 để nói chuyện giải thích giá cả thuê xe cho Việt A hiểu vì ông S1 là người giới thiệu cho ông H nhận chuyến chở trên cho Việt A. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, khi ông H và ông S1 đến quán ăn N1 thì gặp Việt A đang ngồi uống bia cùng với em ruột là Đặng Việt C, sinh năm 1981, nơi cư trú tại số A đường C, Tổ B, khu phố F, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Nguyễn Hoàng T2, sinh năm 1981, nơi cư trú tại khu phố F, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương và khoảng 03 người nam khác (hiện không xác định rõ họ tên và địa chỉ cư trú) nên Việt A kêu ông H và ông S1 vào ngồi chung bàn, gần chỗ Việt A. Khoảng 10 phút sau, Việt A và ông H xảy ra mâu thuẫn về chuyện thanh toán tiền thuê xe. Trong lúc ông H đang ngồi giải thích thì Việt A cầm ly bia bằng thủy tinh trên bàn đập mạnh 01 cái vào vùng mặt của ông H làm ly bia thủy tinh bị bể và ông H bị thương tích chảy máu ở vùng mặt. Thấy Việt A đánh ông H những người nam ngồi cùng bàn với Việt A cũng cầm ly bia thủy tinh và vỏ chai bia ném vào vùng mặt, vùng ngực của ông H gây ra thương tích cho ông H (riêng Đặng Việt C và Nguyễn Hoàng T2 không tham gia). Lúc này, ông H và ông S1 bỏ chạy thì nhóm của Việt A tiếp tục đuổi theo dùng tay, chân đánh cả hai làm ông S1 bị sưng bầm và chấn thương phần mềm; đến khi ông S1 chạy vào khu vực khách sạn B thì bảo vệ không cho nhóm Việt A vào nên cả nhóm mới dừng lại và nhanh chóng rời khỏi quán ăn N1. Sau đó, ông H được đưa đi cấp cứu và điều trị thương tích tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh B, còn ông S1 bị xây xát nhẹ nên đến Công an phường P trình báo sự việc. Ngày 17/8/2016, ông H làm đơn yêu cầu giám định thương tích và khởi tố vụ án hình sự đối với Đặng Việt A và những người nam đã tham gia đánh anh H; đối với ông S1 do bị xây xát nhẹ nên ông S1 từ chối giám định thương tích. Sau đó, Công an phường P xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ và đến ngày 23/8/2016 chuyển giao hồ sơ vụ việc cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T để xác minh và thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.
* Căn cứ vào Giấy chứng nhận thương tích số 201600000746/CN-BVĐK ngày 17/8/2016 của Bệnh viện Đa khoa tỉnh B xác định anh Trần Vũ H vào viện lúc 20 giờ 45 phút ngày 16/8/2016 và xuất viện lúc 00 giờ 20 phút ngày 17/8/2016 có tình trạng thương tích lúc vào viện như sau: Hai vết thương má (P) 02cm, vết thương trán (P) 01cm, vết thương đuôi mày (P) 01cm, vết thương mí trên 01cm, vết thương ngực (P) 04cm.
* Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 318/2016/GĐPY ngày 14/9/2016 của Trung tâm Pháp y tỉnh B kết luận tình trạng thương tích của anh Trần Vũ H, như sau:
1. Khám thương tích hiện tại:
- Vết thương trán phải 0,5cm x 0,1cm, sẹo lành.
- 02 vết thương gò má phải 1,5cm x 0,2cm, 02cm x 0,1cm, sẹo lành, ảnh hưởng thẩm mỹ.
- Vết thương đuôi mày phải 0,5cm x 0,2cm, vết thương mi mắt phải 0,7cm x 0,2cm, sẹo lành.
- Vết thương ngực phải 3,5cm x 0,3cm, sẹo lành.
2. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 12% (mười hai phần trăm).
Quá trình phục hồi điều tra, Đặng Việt A đã khai nhận hành vi dùng hung khí nguy hiểm là ly thủy tinh dùng uống bia đánh vào vùng mặt ông Trần Vũ H gây thương tích với tỷ lệ là 12% (mười hai phần trăm) vào ngày 16/8/2016 tại quán ăn N1, địa chỉ khu phố B, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Đối với ông Trần Vũ H, qua xác minh ông H đã chết vào ngày 28/4/2022 và mẹ ruột của anh H là bà Vũ Thị Hồng N, sinh năm 1957, nơi cư trú tại số H, đường L, Tổ D, khu phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương tiếp tục yêu cầu xử lý hành vi của Đặng Việt A theo quy định. Ngày 18/9/2024, Đặng Việt A đã bồi thường cho bà Vũ Thị Hồng N số tiền 23.000.000 đồng (hai mươi ba triệu đồng) là tiền chi phí điều trị thương tích của ông Trần Vũ H. Hiện tại, bà N không có yêu cầu gì khác và làm đơn xin bãi nại, đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Đặng Việt A.
Đối với ông Trần Văn S1, do chỉ bị xây xát nhẹ nên ông S1 đã làm đơn từ chối giám định thương tích và không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với Đặng Việt A và những đối tượng đã đánh ông S1.
Đối với những đối tượng dùng ly thủy tinh và vỏ chai bia thủy tinh ném vào người ông Trần Vũ H gây thương tích, do quá trình điều tra không xác định rõ họ tên và địa chỉ cư trú của những đối tượng này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau khi có đủ căn cứ.
Bản án hình sự sơ thẩm số 228/2024/HS-ST ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Đặng Việt A phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Đặng Việt A 02 (hai) năm tù, nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án (ngày 22/10/2024).
Giao bị cáo về Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Áp dụng khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự: hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 159/2024/LCCT-TA ngày 10/10/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đối với bị cáo Đặng Việt A.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 21/QĐ-VKSBD-P7 ngày 07 tháng 11 năm 2024 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 228/2024/HS-ST ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương với nội dung yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm theo hướng sửa Bản án sơ thẩm không cho bị cáo hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến: Hành vi dùng hung khí nguy hiểm là ly thủy tinh của bị cáo Đặng Việt A đánh vào vùng mặt của bị hại Trần Vũ H gây thương tích với tỷ lệ thương tổn cơ thể là 12% đã bị cấp sơ thẩm truy tố, xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt với bị hại H trong khi chính bị cáo là người có lỗi mà bị cáo đã đánh bị hại H bằng hung khí nguy hiểm tại nơi công cộng. Khi bị hại H và ông Trần Văn S1 bỏ chạy thì nhóm của bị cáo tiếp tục đuổi theo dùng tay, chân đánh cả hai làm ông S1 bị sưng bầm và chấn thương phần mềm, đến khi ông S1 chạy vào khu vực khách sạn B, bảo vệ không cho nhóm bị cáo vào nên cả nhóm mới dừng lại. Hành vi của bị cáo đã thể hiện sự quyết liệt cùng với bản tính hung hăng, côn đồ, thái độ coi thường pháp luật và sức khỏe của người khác, sẵn sàng dùng vũ lực để giải quyết mâu thuẫn. Như vậy, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có tính chất côn đồ nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét áp dụng tình tiết này đối với bị cáo là thiếu sót, dẫn đến việc căn cứ Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo hưởng án treo là vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 3 của Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị, sửa bản án sơ thẩm theo hướng không cho bị cáo hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi sai trái của mình mong mong Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm, tạo điều kiện cho bị cáo chăm sóc gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 21/QĐ-VKSBD-P7 ngày 07 tháng 11 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiếm sát nhân dân tỉnh B được thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật.
Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 10 phút ngày 16/8/2016, tại quán ăn N1, địa chỉ tại Khu phố B, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bị hại Trần Vũ H và ông Trần Văn S1 đến gặp bị cáo Đặng Việt A để lấy tiền thuê xe taxi mà bị cáo còn thiếu. Trong lúc bị hại đang ngồi giải thích giá cả thuê xe thì bị cáo cầm ly bia bằng thủy tinh là hung khí nguy hiểm đánh vào vùng mặt của bị hại gây thương tích với tỷ lệ thương tổn cơ thể tại thời điểm giám định là 12% (mười hai phần trăm).
Hành vi của bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã xâm hại đến quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến trật tự trị an nơi gây án. Về nhận thức, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì mâu thuẫn nhỏ nhặt mà bị cáo đã gây thương tích cho bị hại, thể hiện ý thức xem thường pháp luật. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm mà bị cáo đã thực hiện. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn, xuất phát từ việc thanh toán tiền thuê xe, bị cáo có hành vi dùng ly thủy tinh đánh bị hại. Khi bị hại và ông S1 bỏ chạy, bị cáo vẫn tiếp tục đuổi đánh thể hiện sự quyết liệt đến cùng với bản tính hung hăng, côn đồ, thái độ coi thường pháp luật và sức khỏe của người khác, sẵn sàng dùng vũ lực để giải quyết mâu thuẫn của bị cáo. Hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất côn đồ. Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét áp dụng tình tiết này đối với bị cáo là thiếu sót, dẫn đến việc căn cứ Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo hưởng án treo là vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 3 của Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.
Đối với những đối tượng dùng ly thủy tinh và vỏ chai bia thủy tinh ném vào người bị hại gây thương tích: quá trình điều tra không xác định rõ họ tên và địa chỉ cư trú của những đối tượng này nên Hội đồng xét xử đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau khi có đủ căn cứ tránh trường hợp bỏ lọt tội phạm.
Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về việc cho bị cáo hưởng án treo không đúng là có cơ sở và phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử. Do đó, có cơ sở chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương. Ý kiến của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tại phiên tòa là phù hợp.
Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Đặng Việt A không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 21/QĐ-VKSBD-P7 ngày 07 tháng 11 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 228/2024/HS-ST ngày 22 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đối với bị cáo Đặng Việt A như sau:
Tuyên bố bị cáo Đặng Việt A phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Đặng Việt A 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
2. Án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Đặng Việt A không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao (Vụ Giám đốc kiểm tra 1); - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương; - Phòng Hồ sơ - Công an tỉnh Bình Dương; - Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương (2); - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương; - Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương; - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương; - Bị cáo (1); - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - Lưu VP (3), hồ sơ vụ án, ĐHN. 20. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thanh Tùng |