vanban.org

Bản án 05/HNGĐ.PT — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/03/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Căn cứ Điều 147; 148; Điều 300; khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đ n anh Đỗ Quốc H; sửa phần về con chung của Bản n hôn nhân và gia đình s thẩm số: 90/2024/HNGĐ-ST, ngày 20 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện S. D, tỉnh Tuyên Quang, như sau: Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Th - Đỗ Quốc H"
  • Tòa quyết gì? * Căn cứ Điều 147; 148; Điều 300; khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/HNGĐ-PT
Ngày 25-3-2025
V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đức Nam và ông Triệu Ngọc Thức.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Hồng Phong - Thẩm tra viên Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại Hội trường xét xử của Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang, Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang, mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 01/2025/TLPT-HNGĐ, ngày 04 tháng 02 năm 2025, về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

Do Bản n Hôn nhân và gia đình s thẩm số: 90/2024/HNGĐ-ST, ngày 20 tháng 12 năm 2024, của Tòa án nhân dân huyện S. D, tỉnh Tuyên Quang, bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 05/2025/QĐ-PT, ngày 26 tháng 02 năm 2025, giữa c c đư ng sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Thôn Ph. H, xã Ph, huyện S. D, tỉnh Tuyên Quang - Có mặt.

Bị đơn: Anh Đỗ Quốc H, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Tổ dân phố T. B, thị trấn S, huyện S. D, tỉnh Tuyên Quang - Có mặt.

Người kháng cáo: Bị đ n anh Đỗ Quốc H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Tôi và anh Đỗ Quốc H được tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn S, huyện S. D, tỉnh Tuyên Quang, vào ngày 18/3/2011 và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phư ng. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống tại Tổ dân phố T. B, thị trấn S, huyện S. D, tỉnh Tuyên Quang. Tình cảm vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc, nhưng đến khoảng cuối năm 2019, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và ngày càng mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung dẫn đến thường xuyên xảy ra cãi vã, xích mích ngày càng trầm trọng h n, nên tôi về nhà bố mẹ đẻ ở xã Ph, huyện S. D ở đến nay vợ chồng sống ly thân. Vợ chồng mâu thuẫn đã được gia đình hai bên hoà giải nhiều lần, nhưng không thành. Nay tôi x c định tình cảm vợ chồng đã hết, mâu thuẫn vợ chồng thường xảy ra trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và thực tế vợ chồng sống ly thân nhiều tháng nay, nên tôi đề nghị Toà án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Đỗ Quốc H.

Về con chung: Tôi và anh Đỗ Quốc H có 02 người con chung là cháu Đỗ Ngọc T, sinh ngày 11/9/2012 và cháu Đỗ Phúc Ph, sinh ngày 18/6/2019. Khi ly hôn, tôi đề nghị Toà án giao cháu Đỗ Phúc Ph cho tôi là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và tôi nhất trí giao cháu Đỗ Ngọc T cho anh Đỗ Quốc H là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau.

Về tài sản chung: Tôi và anh H không có, nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản cho vay và tài sản vay nợ chung: Tôi và anh H không có, nên không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn anh Đỗ Quốc H trình bày tại biên bản lấy lời khai của đương sự, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa:

Về quan hệ hôn nhân: Tôi x c định về thời gian kết hôn và n i đăng ký kết hôn như chị Nguyễn Thị Th trình bày là hoàn toàn đúng. Theo tôi nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình không hòa hợp; vợ chồng không có tiếng nói chung và có nhiều bất đồng quan điểm sống và làm ăn kinh tế, dẫn đến vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và chị Th bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, nên vợ chồng sống ly thân. Nay tôi x c định tình cảm vợ chồng với chị Th không còn, mâu thuẫn xảy ra trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên tôi nhất trí thuận tình ly hôn với chị Nguyễn Thị Th.

Về con chung: Tôi và chị Nguyễn Thị Th có 02 người con chung là cháu Đỗ Ngọc T, sinh ngày 11/9/2012; cháu Đỗ Phúc Ph, sinh ngày 18/6/2019. Khi ly hôn, tôi đề nghị Toà án giao 02 cháu Đỗ Phúc Ph và cháu Đỗ Ngọc T cho tôi là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng; tôi không yêu cầu chị Th phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng tôi.

Về tài sản chung: Tôi và chị Th không có, nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản cho vay và tài sản vay nợ chung: Tôi và chị Th không có, nên không yêu cầu giải quyết.

Ý kiến của cháu Đỗ Ngọc T có lưu trong hồ s thể hiện nguyện vọng của ch u là được sống cùng với bố khi bố mẹ ly hôn.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp s thẩm đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân của chị Th và anh D tại n i cư trú Tổ dân phố T. B, thị trấn S, huyện S. D, tỉnh Tuyên Quang. Tháng 11/2024 chị Th đã chuyển khẩu về nhà bố mẹ đẻ ở tại xã Ph, huyện S. D, tỉnh Tuyên Quang. Anh chị kết hôn năm 2011 trên c sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 18/3/2011 tại Ủy ban nhân dân thị trấn S, huyện S. D, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi kết hôn anh chị sinh sống tại địa phư ng; anh H là lao động tự do, chị Th là công nhân Công ty TNHH sản xuất giày CHUNG JYE Tuyên Quang - Chi nhánh S. D. Quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc, sau xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, suy nghĩ không hiểu nhau; vợ chồng thường xảy ra xích mích, hiện đang sống ly thân.

Tòa án nhân dân huyện S. D, tỉnh Tuyên Quang, đã x c minh, thu thập chứng cứ; hòa giải cho chị Th, anh H về đoàn tụ vợ chồng, nhưng không thành và đã đưa vụ án ra xét xử. Tại Bản n Hôn nhân và gia đình s thẩm số: 90/2024/HNGĐ-ST, ngày 20 th ng 12 năm 2024, của Tòa án nhân dân huyện S. D, tỉnh Tuyên Quang, quyết định:

Căn cứ vào c c Điều 28, 35, 39, 147, 235, 266, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 55, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Th và anh Đỗ Quốc H.

(Giấy chứng nhận kết hôn số: 36, ngày 18 tháng 3 năm 2011 tại Uỷ ban nhân dân thị trấn S, huyện S. D, tỉnh Tuyên Quang).

2. Về con chung: Giao cháu Đỗ Ngọc T, sinh ngày 11/9/2012 cho anh Đỗ Quốc H là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Giao cháu Đỗ Phúc Ph, sinh ngày 18/6/2019 cho chị Nguyễn Thị Th là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Chị Nguyễn Thị Th và anh Đỗ Quốc H không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng nhau và được quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Ngoài ra, bản án còn giải quyết về án phí và quyền kháng cáo của c c đư ng sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 31/12/2024, Tòa án nhân dân huyện S. D nhận được đ n kh ng c o của bị đ n anh Đỗ Quốc H, anh H kháng cáo Bản án hôn nhân và gia đình s thẩm số: 90/2024/HNGĐ-ST, ngày 20/12/2024 của T a n nhân dân huyện S. D, tỉnh Tuyên Quang. Nội dung kháng cáo anh H đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang giải quyết phúc thẩm cho anh được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục 02 người con chung là cháu Đỗ Ngọc T, sinh ngày 11/9/2012 và cháu Đỗ Phúc Ph, sinh ngày 18/6/2019, anh không yêu cầu chị Th phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Tại phiên tòa phúc thẩm anh H trình bày: Về quan hệ hôn nhân tôi vẫn nhất trí thuận tình ly hôn với chị Th. Về tài sản chung; tài sản cho vay và vay nợ chung không có, nên không yêu cầu giải quyết. Về con chung tôi vẫn giữ nguyên yêu cầu kh ng c o, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét từ khi tôi và chị Th xảy ra mâu thuẫn, chị Th về nhà bố mẹ đẻ ở thì cháu Đỗ Ngọc T và cháu Đỗ Phúc Ph đều do tôi là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chị Th vẫn đi lại thăm nom con chung. Tôi x c định 02 cháu đang ở cùng nhau trực tiếp với tôi ở thị trấn S, huyện S. D thì sẽ có điều kiện sinh sống, học tập phát triển tốt h n ở với chị Th, do vậy đề nghị giao cháu Đỗ Ngọc T, cháu Đỗ Phúc Ph cho tôi là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng; tôi không yêu cầu chị Th phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng tôi và chị Th được quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Tại phiên tòa phúc thẩm chị Th trình bày: Về quan hệ hôn nhân tôi vẫn nhất trí thuận tình ly hôn với anh H. Về tài sản chung; tài sản cho vay và vay nợ chung không có, nên không yêu cầu giải quyết. Về con chung tôi xin sửa đổi bổ sung là kể từ khi Tòa án nhân dân huyện S. D giải quyết cho tôi và anh H thuận tình ly hôn đến nay, thì cháu Đỗ Ngọc T và cháu Đỗ Phúc Ph đều do anh H là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, gi o dục, tôi vẫn đi lại thăm nom con chung. Tôi thấy rằng 02 cháu đang ở cùng nhau trực tiếp với anh H ở thị trấn S, huyện S. D thì sẽ có điều kiện sinh sống, học tập phát triển tốt h n ở với tôi, do vậy tôi nhất trí và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giao cháu Đỗ Ngọc T, cháu Đỗ Phúc Ph cho anh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và tôi không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh H và tôi có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về tiền án phí, tại phiên tòa phúc thẩm anh H và chị Th cùng nhau tự thỏa thuận, anh H chịu toàn bộ tiền n phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm theo quy định.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:

* Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm ph n đã chấp hành đúng c c quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử đã thực hiện đảm bảo các thủ tục về phiên tòa Phúc thẩm; sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên t a đúng quy định. Các đư ng sự thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đ n kh ng c o của bị đ n anh Đỗ Quốc H là hợp lệ, trong hạn luật định, nội dung kháng cáo nằm trong nội dung bản n s thẩm.

* Căn cứ Điều 147; 148; Điều 300; khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 81; 82; 83 của Luật hôn nhân và gia đình. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng n phí và lệ phí T a n.

Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa Bản án hôn nhân và gia đình s thẩm số: 90/2024/HNGĐ-ST, ngày 20 th ng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện S. D, tỉnh Tuyên Quang, về phần con chung là công nhận sự thỏa thuận của các đư ng sự về việc giao cháu Đỗ Ngọc T, sinh ngày 11/9/2012 và cháu Đỗ Phúc Ph, sinh ngày 18/6/2019 cho anh Đỗ Quốc H trực tiếp trông nom, chắm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Do anh Đỗ Quốc H không có yêu cầu, nên chị Nguyễn Thị Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị Th có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

* Về án phí: Tại phiên tòa phúc thẩm anh H và chị Th cùng nhau tự thỏa thuận về án phí, nên anh H chịu toàn bộ tiền n phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ s vụ n được thẩm tra tại phiên t a và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Ngày 31/12/2024, Tòa án nhân dân huyện S. D nhận được đ n kh ng c o của bị đ n anh Đỗ Quốc H đối với Bản án hôn nhân và gia đình s thẩm số: 90/2024/HNGĐ-ST, ngày 20/12/2024 của T a n nhân dân huyện S. D, tỉnh Tuyên Quang. Anh H kháng cáo với nội dung không nhất trí việc Hội đồng xét xử cấp s thẩm giải quyết giao cho chị Th là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đỗ Phúc Ph, sinh ngày 18/6/2019.

Xét thấy anh H là người có quyền kháng cáo bản án, việc kh ng c o được thực hiện trong thời hạn luật định, nội dung kháng cáo phù hợp với quy định của pháp luật; người kh ng c o đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định. Do vậy, đ n kh ng c o của anh H là hợp lệ, nên được chấp nhận để xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung kháng cáo: Tại phần thủ tục bắt đầu phiên tòa phúc thẩm, anh H và chị Th tự nguyện thỏa thuận được với nhau về việc giao cháu Đỗ Ngọc T, sinh ngày 11/9/2012 và cháu Đỗ Phúc Ph, sinh ngày 18/6/2019 cho anh H trực tiếp trông nom, chắm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; anh H không yêu cầu chị Th phải cấp dưỡng nuôi con chung và chị Th có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Xét thấy anh H và chị Th tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và sự thỏa thỏa thuận của anh H, chị Th là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không tr i đạo đức xã hội, nên đây là tình tiết mới, khách quan; do vậy, sửa phần về con chung đối với Bản án hôn nhân và gia đình s thẩm số: 90/2024/HNGĐ-ST, ngày 20/12/2024 của T a n nhân dân huyện S. D, tỉnh Tuyên Quang, là công nhận sự thỏa thuận của c c đư ng sự về con chung là giao cháu Đỗ Ngọc T, sinh ngày 11/9/2012 và cháu Đỗ Phúc Ph, sinh ngày 18/6/2019 cho anh H trực tiếp trông nom, chắm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh H và chị Th có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về nội dung khác của bản n s thẩm: Do không có kháng cáo, kháng nghị, nên Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết.

Về án phí: Tại phiên tòa phúc thẩm anh H và chị Th cùng nhau tự thỏa thuận về người chịu tiền án phí, nên anh H chịu toàn bộ tiền án phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm theo quy định.

Các phần khác của bản n s thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ Điều 147; 148; Điều 300; khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 81; 82; 83 của Luật hôn nhân và gia đình. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng n phí và lệ phí T a n.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đ n anh Đỗ Quốc H; sửa phần về con chung của Bản n hôn nhân và gia đình s thẩm số: 90/2024/HNGĐ-ST, ngày 20 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện S. D, tỉnh Tuyên Quang, như sau:

Về con chung:

Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau: Giao cháu Đỗ Ngọc T, sinh ngày 11 th ng 9 năm 2012 và cháu Đỗ Phúc Ph, sinh ngày 18 th ng 6 năm 2019 cho anh Đỗ Quốc H trực tiếp trông nom, chắm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Chị Nguyễn Thị Th không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Đỗ Quốc H và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

2. Về án phí: Anh Đỗ Quốc H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền n phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án Ký hiệu: BLTU/24; Số: 0001650, ngày 09/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện S. D, tỉnh Tuyên Quang. Anh Đỗ Quốc H đã nộp đủ tiền án phí phúc thẩm.

3. Các phần khác của bản n s thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án, ngày 25 tháng 3 năm 2025.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ