- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Huy T phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đào Huy T (tên gọi khác: C1) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 173 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - CẦN THƠ THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2026/HS-ST Ngày 16-01-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – CẦN THƠ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Phước Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lâm Ngọc Hà.
Ông Lý Thanh Phong.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Loan Em là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Chiến – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:
Đào Huy T (tên gọi khác C1), sinh ngày 09/5/1989 tại thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Ấp Đ, xã Đ, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Huy X và bà Nguyễn Thị Bích N; chưa có vợ, con; tiền án không; tiền sự: 02: Vào ngày 03/3/2025 có hành vi “Xâm nhập vào khu vực nhà ở của người khác nhằm mục đích trộm cắp tài sản”, bị xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số: 97/QĐ-XPHC 19/3/2025 của Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (cũ), phạt số tiền 2.500.000 đồng, đã chấp hành xong ngày 19/3/2025; có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”, bị xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số: 29/QĐ-XPHC ngày 18/7/2025 của Công an xã H, thành phố Cần Thơ, với số tiền 1.500.000 đồng, đã chấp hành xong ngày 10/9/2025; nhân thân: Vào ngày 18/02/2006 có hành vi “Trộm cắp tài sản”, bị Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xử phạt 09 (chín) tháng tù giam, tại bản án số: 88/2006/HSPT ngày 28/9/2006, đến ngày 26/5/2007 bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, đến lần phạm tội này bị cáo đương nhiên được xóa án tích; ngày 06/01/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Kế sách, tỉnh Sóc Trăng quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng, đến ngày 23/4/2021 được Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng quyết định miễn chấp hành phần thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính còn lại; bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/9/2025 cho đến nay (bị cáo có mặt).
- Bị hại: Ông Ngô Quang D, sinh ngày 01/01/1959.
Nơi thường trú: Ấp Đ, xã Đ, thành phố Cần Thơ; nơi cư trú hiện nay: Ấp C, xã H, thành phố Cần Thơ (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Lê Trung H, sinh năm 1988.
Nơi cư trú: Ấp M, xã H, thành phố Cần Thơ (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người làm chứng: Chị Dương Hồng L, sinh năm 1984.
Nơi cư trú: Ấp P, xã T, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 19/3/2025, bị cáo Đào Huy T bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số: 97/QĐ-XPHC về hành vi trộm cắp tài sản với số tiền 2.500.000 đồng, bị cáo đã nộp phạt xong ngày 19/3/2025. Đến khoảng 08 giờ ngày 03/7/2025, bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 83FB-7927 nhãn hiệu Dream đi ngang qua nhà ông Ngô Quang D thuộc ấp C, xã H, thành phố Cần Thơ thì nhìn thấy nhà ông D có nhốt 02 (hai) con gà trống trong bội trước nhà nên bị cáo ghé vào nhà và hỏi ông D “Gà mấy ký”, ông D trả lời “Gà ba ký hai”, bị cáo hỏi tiếp gà này bao nhiêu tiền? Thì ông D trả lời “Một triệu hai trăm nghìn đồng”, hỏi xong bị cáo điều khiển xe đi về nhà. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, bị cáo điều khiển xe quay lại nhà ông D thì nhìn thấy một con gà trống bướm, lông màu trắng, mồng lá, chân màu vàng được nhốt trong bội và để trước nhà không có ai trông coi nên bị cáo nảy sinh ý định bắt trộm con gà này nên dừng xe lại đậu chỗ lộ đal gần nhà ông D. Sau đó, bị cáo đi đến mở nắp bội nhốt gà lên và bắt con gà bỏ vào bên trong áo đang mặc (vận) rồi lên xe điều khiển chạy đi đến chợ T1 thuộc ấp A, xã H bán cho anh Lê Trung H được số tiền 400.000 đồng, sau khi có được số tiền bị cáo tiêu xài cá nhân hết.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 25/KL-HĐDGTS, ngày 09 tháng 9 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cần Thơ, kết luận: Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt vào thời điểm ngày 03/7/2025 cụ thể:
- Giá mua: 90.000 đ/kg x 2,6kg = 234.000 đồng.
- Giá bán: 120.000 đ/kg x 2,6kg = 312.000 đồng.
Đến ngày 04/11/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C ban hành Công văn số: C2654/VPCQCSĐT về việc yêu cầu hỗ trợ xem xét, xác định lại giá trị tài sản (con gà trống) bị chiếm đoạt. Đến ngày 14/11/2025 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cần Thơ ra Công văn số: 161/HĐĐGTS trả lời tổng giá trị tài sản (con gà trống) bị chiếm đoạt vào thời điểm ngày 03/7/2025 với số tiền là: 312.000 đồng.
Về vật chứng của vụ án: Trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tạm giữ tài sản, đồ vật gồm: 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 83FB-7927 nhãn hiệu Dream; 01 (một) con gà trống bướm, lông màu trắng, mồng lá, chân màu vàng. Sau khi xác minh làm rõ Cơ quan Cảnh sát điều tra ra quyết định xử lý vật chứng bằng cách trả lại cho chủ sở hữu là trả cho ông Đào Huy X 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 83FB-7927 nhãn hiệu Dream; trả lại cho ông Ngô Quang D 01 (một) con gà trống bướm, lông màu trắng, mồng lá, chân màu vàng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Ngô Quang D đã nhận lại được tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì thêm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại số tiền 400.000 đồng đã mua con gà do bị cáo trộm được của ông D bán cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nên không đặt ra xem xét.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số: 18/CT-VKSKV6 ngày 18/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ đã truy tố bị cáo Đào Huy T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Đào Huy T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Vào ngày 03/7/2025, bị cáo Đào Huy T đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của bị hại Ngô Quang D là 01 con gà trống, tại thời điểm trộm cắp tài sản có giá trị là 312.000 đồng. Vào ngày 03/3/2025, bị cáo có hành vi “Xâm nhập vào khu vực nhà ở của người khác nhằm mục đích trộm cắp tài sản”, đến ngày 19/3/2025 Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (cũ) ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 2.500.000 đồng, đã nộp phạt xong ngày 19/3/2025. Đến ngày 03/7/2025, bị cáo tiếp tục có hành vi trộm cắp tài sản là con gà trống của ông Ngô Quang D, có giá trị 312.000 đồng, thì bị cáo còn trong thời hạn chưa được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tuy nhiên, cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là: Bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi của mình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đào Huy T từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp đúng quy định của pháp luật nên không đặt ra xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Ngô Quang D và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đế vụ án Lê Trung H không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét.
Bị cáo trình bày lời tự bào chữa: Bị cáo không có ý kiến tự bào chữa.
Bị hại không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Tòa án giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại đối với hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Lê Trung H vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; người làm chứng chị Dương Hồng L vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Xét thấy người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng đã có lời khai trong quá trình điều tra, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh Lê Trung H và chị Dương Hồng L.
Về nội dung:
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Đào Huy T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra đã thu thập được nên Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: khoảng 08 giờ ngày 03/7/2025, bị cáo điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 83FB-7927 nhãn hiệu Dream đi ngang qua nhà ông Ngô Quang D thuộc ấp C, xã H, thành phố Cần Thơ thì nhìn thấy nhà ông D có nhốt 02 (hai) con gà trống trong bội trước nhà nên bị cáo ghé vào nhà và hỏi ông D “Gà mấy ký”, ông D trả lời “Gà ba ký hai”, bị cáo hỏi tiếp gà này bao nhiêu tiền? Thì ông D trả lời “Một triệu hai trăm nghìn đồng”, hỏi xong bị cáo điều khiển xe đi về nhà. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, bị cáo điều khiển xe quay lại nhà ông D thì nhìn thấy một con gà trống bướm, lông màu trắng, mồng lá, chân màu vàng được nhốt trong bội và để trước nhà không có ai trông coi nên bị cáo nảy sinh ý định bắt trộm con gà này nên dừng xe lại đậu chỗ lộ đal gần nhà ông D. Sau đó, bị cáo đi đến mở nắp bội nhốt gà lên và bắt con gà bỏ vào bên trong áo đang mặc (vận) rồi lên xe điều khiển chạy đi đến chợ T1 thuộc ấp A, xã H bán cho anh Lê Trung H được số tiền 400.000 đồng, sau khi có được số tiền bị cáo tiêu xài cá nhân hết.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 25/KL-HĐDGTS, ngày 09 tháng 9 năm 2025 và tại Công văn số: 161/HĐĐGTS ngày 14/11/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cần Thơ trả lời tổng giá trị tài sản (con gà trống) bị chiếm đoạt vào thời điểm ngày 03/7/2025, có giá trị với số tiền là: 312.000 đồng.
Vào ngày 03/3/2025, bị cáo có hành vi “Xâm nhập vào khu vực nhà ở của người khác nhằm mục đích trộm cắp tài sản”, bị xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số: 97/QĐ-XPHC 19/3/2025 của Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (cũ), phạt số tiền 2.500.000 đồng, đã chấp hành xong ngày 19/3/2025. Theo quy định tại khoản 1 Điều 7 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020 và năm 2025 quy định về thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính như sau: “Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt cảnh cáo hoặc 01 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính khác hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính mà không tái phạm thì được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính”. Theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025 quy định: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm”. Như vậy, đến ngày 03/7/2025, bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là con gà trống của ông Ngô Quang D có giá trị 312.000 đồng, bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Xâm nhập vào khu vực nhà ở của người khác nhằm mục đích trộm cắp tài sản”. Do đó, hành vi trộm cắp tài sản nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Cần Thơ, thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác là bất khả xâm phạm, nhưng chỉ vì lười lao động, mong muốn có tiền phục vụ cho tiêu xài cá nhân và hưởng thụ của bị cáo mà bị cáo cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác do pháp luật hình sự bảo vệ, đặc biệt là ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình an ninh, trật tự ở địa phương, làm cho quần chúng hoang mang, lo sợ và thời gian gần đây hành vi trộm cắp tài sản xảy ra rất nhiều. Do đó, cần phải xử phạt tù thật nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo để cho bị cáo có thời gian học tập, cải tạo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội, biết tôn trọng pháp luật.
Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho bị cáo như sau:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự nhưng bị cáo có nhân thân xấu là vào ngày 18/02/2006 có hành vi “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 18/9/2006, bị Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xử phạt 09 (chín) tháng tù giam, chấp hành án tại Trại tạm giam Công an tỉnh S, đến ngày 26/5/2007 đã chấp hành xong hình phạt tù, khi phạm tội bị cáo từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, phạm tội ít nghiêm trọng nên được coi là không có án tích theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự; ngày 06/01/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Kế sách, tỉnh Sóc Trăng quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng, đến ngày 23/4/2021 được Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng quyết định miễn chấp hành phần thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính còn lại; bị cáo có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”, bị xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 29/QĐ-XPHC ngày 18/7/2025 của Công an xã H, thành phố Cần Thơ, đã chấp hành xong ngày 10/9/2025 nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cân nhắc giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đào Huy T từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có thu nhập thấp, không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã giao trả lại tài sản đã thu giữ cho chủ sở hữu hợp pháp cho ông Ngô Quang D 01 (một) con gà trống bướm, lông màu trắng, mồng lá, chân màu vàng và trả lại cho ông Đào Huy X 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 83FB-7927 nhãn hiệu Dream là đúng theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Ngô Quang D đã nhận lại tài sản bị mất trộm và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đế vụ án anh Lê Trung H không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 400.000 đồng đã mua con gà do bị cáo trộm cắp của ông Ngô Quang D mà có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét về trách nhiệm dân sự của bị cáo.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Đào Huy T là người bị kết án nên bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Lê Trung H đã tiêu thụ tài sản do bị cáo phạm tội mà có nhưng khi tiêu thụ thì không biết tài sản này do bị cáo phạm tội mà có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét về trách nhiệm hình sự đối với anh Lê Trung H.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Đào Huy T (tên gọi khác: C1) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đào Huy T (tên gọi khác: C1) 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành hình phạt tù hoặc bắt bị cáo đi thi hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã xử lý xong nên không đặt ra xem xét.
3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Đào Huy T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo, đương sự; - VKSND khu vực 6 – Cần Thơ; - THADS khu vực 6, thành phố Cần Thơ; - CAND thành phố Cần Thơ (CQTHAHS, CQCSĐT); - Phòng HSNV Công an thành phố Cần Thơ; - TAND thành phố Cần Thơ (Phòng GĐ, KT, TT & THA); - Sở Tư pháp thành phố Cần Thơ; - VKSND thành phố Cần Thơ; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Đặng Phước Tuấn |