- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Đình A - tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép (điều 348 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Tài chính T Việt Nam về việc: Số tiền có được từ việc bán đấu giá tài sản là xe ô tô Biển kiểm soát 12H-026.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2026/HS-PT Ngày 25-3-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Thùy
Các thẩm phán: Ông Phùng Đức Chính
Ông Chu Long Kiếm
- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Cao Cường, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hoàng Thái, Kiểm sát viên.
Ngày 25-3-2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 07/2025/TLPT-HS ngày 05-02-2026 đối với bị cáo Hoàng Đình A; do có kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Tài chính T Việt Nam đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2025/HS-ST ngày 25-12-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn; đối với:
- Bị cáo: Hoàng Đình A, sinh ngày 02-03-1986 tại tỉnh Lạng Sơn. Nơi cư trú: Khối N, phường Đ, tỉnh Lạng Sơn; số CCCD: 0200860014xx, cấp ngày 13-12-2024; nghề nghiệp: Công nhân; trinh độ văn hò
́a: Lớp 11/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Đình S và bà Hoàng Thị C; có vợ là Hoàng Thị L và 03 con; con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2024; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Bị cáo chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26-8-2025 cho đến nay; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Công ty Trách nhiệm hữu hạn (TNHH) Một thành viên Tài chính T Việt Nam.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Bích H, Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1989; số CCCD 0340890002xx; chức vụ: Phó phòng thu nợ. Địa chỉ: Tầng 12 S, đường L, phường S, Thành phố Hồ Chí Minh (giấy uỷ quyền lập ngày 10-3-2026); có mặt.
2. Chị Hoàng Thị L, sinh năm 1990; số CCCD 0201900018xx. Địa chỉ: Khối N, phường Đ, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
Ngoài ra còn có 01 bị cáo, 02 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không bị Viện Kiểm sát kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong quá trình lái xe Taxi, Trần Văn T và Hoàng Đình A kết bạn với tài khoản Zalo có tên “A” (không rõ nhân thân, địa chỉ cụ thể). Khoảng 15 giờ ngày 24-8-2025, người sử dụng tài khoản Zalo “A” gọi điện cho Trần Văn T qua ứng dụng zalo để thoả thuận thuê Trần Văn T đến Lạng Sơn đón 02 người Trung Quốc nhập cảnh trái phép đưa về thành phố Hà Nội, với tiền công 4.000.000 đồng, Trần Văn T đồng ý.
Cùng ngày, tài khoản “A” liên lạc với Hoàng Đình A để thuê Hoàng Đình A đi trông đường cho xe chở người Trung Quốc nhập cảnh trái phép từ khu vực xã T, tỉnh Lạng Sơn đến cao tốc Lạng Sơn - Bắc Giang; với tiền công 700.000 đồng, Hoàng Đình A đồng ý và được cho số điện thoại 09839265xx của Trần Văn T để liên lạc.
Khoảng 16 giờ ngày 24-8-2025, Trần Văn T một mình điều khiển xe ô tô Huyndai Kona, biển kiểm soát 98A-725.xx từ tỉnh Bắc Ninh đến tỉnh Lạng Sơn. Khoảng 18 giờ 30 phút, Trần Văn T được một người đàn ông không quen biết sử dụng số điện thoại 09696889xx gọi vào số điện thoại 09833265xx của Trần Văn T hẹn đến cây xăng ở khu vực P, xã H, tỉnh Lạng Sơn đợi để đón người nhập cảnh trái phép. Trong khi đi đến điểm hẹn, tài khoản Zalo “A” cho Trần Văn T biết sẽ có xe ô tô của Hoàng Đình A đi trước để trông đường. Sau đó, Trần Văn T thấy có tài khoản Zalo “H” gửi lời kết bạn nên đã đồng ý.
Khoảng 19 giờ ngày 24-8-2025, Hoàng Đình A điều khiển xe ô tô Toyota Vios biển kiểm soát 12H-026.xx đến cây xăng khu vực P gặp Trần Văn T. Khoảng 21 giờ cùng ngày, người đàn ông sử dụng số điện thoại 09696889xx thông báo cho Trần Văn T điều khiển xe đi theo hướng cửa khẩu T, qua cây xăng khoảng 200m thì dừng xe, sẽ có người đưa người nhập cảnh trái phép lên xe. Trần Văn T làm theo chỉ dẫn, sau khi đón được 02 người đàn ông Trung Quốc, Trần Văn T gọi vào tài khoản Zalo “A Văn Bê” thông báo đã đón được người và quay video 02 người khách gửi qua Zalo cho “A Văn Bê” để xác nhận đúng người cần đón. Sau đó, Trần Văn T điều khiển xe ô tô đi về thành phố Hà Nội; trên đường di chuyển, Trần Văn T liên lạc, chia sẻ hành trình trực tiếp với Hoàng Đình A điều khiển xe đi trước trông đường, bảo đảm khoảng cách giữa hai xe là 02 km.
Xe của Hoàng Đình A đi trông đường đến khu vực rẽ vào đường cao tốc Lạng Sơn - Bắc Giang thì quay lại do đã hoàn thành nhiệm vụ. Đến 23 giờ 30 phút ngày 24-8-2025, khi Trần Văn T điều khiển xe ô tô chở người nhập cảnh trái phép đi đến thôn M, xã N, tỉnh Lạng Sơn thì bị lực lượng chức năng phát hiện bắt quả tang.
Ngày 26-8-2025, Hoàng Đình A đến Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh Lạng Sơn đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2025/HS-ST ngày 25-12-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Hoàng Đình A 01 (một) năm tù về tội Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép. Căn cứ vào điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 xe ô tô Toyota Vios Biển kiểm soát 12H-026.xx, số máy 2NRY2188xx, số khung RL4B28F3XR51793xx (kèm theo 01 giấy chứng nhận kiểm định; 02 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện).
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn xử phạt bị cáo Trần Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù; quyết định về vật chứng khác, án phí và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo, người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật.
Trong thời hạn luật định, Công ty TNHH Một thành viên Tài chính T Việt Nam (gọi tắt là Công ty tài chính T) có đơn kháng cáo về phần xử lý vật chứng là xe ô tô biển kiểm soát 12H-026.37.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người đại diện hợp pháp của Công ty Tài chính T trình bày: Ngày 17-10-2027, Hoàng Đình A ký hợp đồng tín dụng vay Công ty tài chính T 350.000.000 đồng để mua xe ô tô; thời hạn vay là 60 tháng kể từ ngày giải ngân 18-10-2024; tài sản bảo đảm cho khoản vay chính là xe ô tô Vios Biển kiểm soát 12H-026.xx. Do đó, xe ô tô Vios Biển kiểm soát 12H-026.xx được hình thành từ tiền vay Công ty tài chính T và tiền tích luỹ của bị cáo Hoàng Đình A và vợ là chị Hoàng Thị L. Trong vụ án này, bị cáo Hoàng Đình A có vai trò thấp, không trực tiếp sử dụng xe ô tô Vios biển kiểm soát 12H-026.xx để chở người nhập cảnh trái phép. Công ty Tài chính T nhất trí tịch thu, giao xe ô tô nói trên cho Cơ quan thi hành án dân sự bán đấu giá nhưng số tiền có được từ việc bán đấu giá xe ôt tô nới trên được dùng để thanh toán khoản nợ cho Công ty tài chính Toyota theo Hợp đồng tín dụng giữa Công ty tài chính T với Hoàng Đình A; nếu còn thừa thì trả chị Hoàng Thị L ½, số còn lại thì sung Ngân sách Nhà nước.
Bị cáo Hoàng Đình A thừa nhận việc vay nợ và thế chấp tài sản như người đại diện hợp pháp của Công ty Tài chính T trình bày. Do không đủ tiền mua xe nên bị cáo đã phải vay Công ty Tài chính T. Nay bị cáo bị tạm giam, gia đình khó khăn nên không thực hiện được nghĩa vụ thanh toán nợ. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của Công ty Tài chính Toyota.
Chị Hoàng Thị L đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của Công ty Tài chính T.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn:
Sau khi Trần Văn T bị bắt quả tang, ngày 26-8-2025, bị cáo Hoàng Đình A đến cơ quan Công an đầu thú và khai nhận biết Trần Văn T chở người nhập cảnh trái phép; bị cáo điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 12H-026.xx đi trước xe của Trần Văn T để “trông đường” nếu có lực lượng chức năng sẽ báo cho bị cáo Trần Văn T biết. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Hoàng Đình A về tội Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo Hoàng Đình A và người liên quan là chị Hoàng Thị L không kháng cáo.
Đối với kháng cáo của Công ty Tài chính T: Xe ô tô Biển kiểm soát 12H-026.xx mà bị cáo Hoàng Đình A sử dụng vào việc phạm tội, là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu, hoá giá nộp Ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Việc vợ chồng bị cáo Hoàng Đình A vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ với Công ty Tài chính T thì Công ty có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của Công ty Tài chính T.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố Tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của Công ty Tài chính T, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2025/HS-ST ngày 25-12-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Đình A thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Bản án sơ thẩm đã nêu; lời nhận tội của bị cáo phù hợp các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Hoàng Đình A về tội Tổ chức cho người khác nhập cảnh trái phép theo quy định tại khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.
Xét yêu cầu kháng cáo của Công ty Tài chính Toyota, thấy rằng:
Xe ô tô là tài sản phải đăng ký quyền sở hữu tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Đối với xe ô tô Biển kiểm soát 12H-026.xx do bị cáo Hoàng Đình A đứng tên đăng ký, nên tài sản này thuộc quyền sở hữu của bị cáo. Ngày 24-8-2025, bị cáo đã sử dụng xe ô tô Biển kiểm soát 12H-026.xx làm phương tiện phạm tội, do đó chiếc xe ô tô nói trên được xác định là vật chứng trong vụ án hình sự theo quy định tại Điều 89 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Trước khi bị cáo Hoàng Đình A sử dụng xe ô tô Biển kiểm soát 12H-026.xx vào việc phạm tội, bị cáo đã thế chấp chiếc xe ô tô nói trên để vay tiền tại Công ty Tài chính T. Xét thấy: Theo quy định của pháp luật, tài sản bảo đảm được xử lý khi bên vay không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ không đúng, không đầy đủ. Trong trường hợp cụ thể này, Hợp đồng tín dụng liên quan đến tài sản thế chấp là chiếc xe ô tô nói trên có thời hạn 60 tháng kể từ ngày giải ngân 18-10-2024 và khoản vay này không thuộc trường hợp nợ xấu theo quy định tại Điều 4 của Nghị quyết 42/2017/QH14; quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty Tài chính T không có thông báo thu hồi nợ trước hạn.
Mặt khác, đây là vụ án hình sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết quan hệ chia tài sản của vợ chồng; quan hệ vay nợ và thế chấp giữa Công ty Tài chính T với người vay nợ. Do chiếc xe ô tô nói trên là vật chứng trong vụ án hình sự và Công ty Tài chính T không phải chủ sở hữu, người quản lý sử dụng hợp pháp đối với tài sản đó. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên tịch thu hóa giá sung Ngân sách Nhà nước đối với toàn bộ chiếc xe ô tô nói trên là có căn cứ, phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Từ những phân tích và đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử thấy, yêu cầu kháng cáo của Công ty Tài chính T về việc số tiền có được từ việc bán đấu giá tài sản là xe ô tô Biển kiểm soát 12H-026.xx được dùng để thanh toán khoản nợ của Hoàng Đình A tại Công ty tài chính T theo Hợp đồng tín dụng đã ký; nếu còn thừa thì trả chị Hoàng Thị L ½, số còn lại thì sung Ngân sách Nhà nước là không phù hợp pháp luật nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận. Trường hợp quyền lợi hợp pháp của Công ty Tài chính T bị xâm phạm, nếu xét thấy cần thiết, Công ty Tài chính T có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Xét ý kiến đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
1. Không chấp nhận kháng cáo của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Tài chính T Việt Nam về việc: Số tiền có được từ việc bán đấu giá tài sản là xe ô tô Biển kiểm soát 12H-026.xx được dùng để thanh toán khoản nợ của Hoàng Đình A tại Công ty tài chính T theo Hợp đồng tín dụng đã ký; nếu còn thừa thì trả chị Hoàng Thị L ½, số còn lại thì sung Ngân sách Nhà nước
2. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2025/HS-ST ngày 25-12-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn về phần xử lý vật chứng là xe ô tô Biển kiểm soát 12H-026.xx; cụ thể như sau:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Tịch thu, hóa giá, sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe ô tô màu đen, nhãn hiệu Toyota Vios, biển kiểm soát 12H-026.xx; số máy: 2NRY2188xx; Số khung: RL4B28F3XR51793xx; tình trạng: Cũ, đã qua sử dụng kèm theo: 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số EB 08883xx do Trung tâm đăng kiểm Công ty Cổ phần đăng kiểm xe Cơ giới L cấp ngày 18-10-2024; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện xe ô tô số 0381xx do Công ty B cấp ngày 17-10-2024; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện xe ô tô dành cho ngân hàng số 3416xx do Công ty B cấp ngày 18-10-2024.
(Vật chứng nói trên hiện đang được quản lý, lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - Lạng Sơn, chi tiết được mô tả theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 11-12-2025).
3. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội; - Viện phúc thẩm VKSND tối cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Phòng PA09, PV06 Công an tỉnh Lạng Sơn; - TAND khu vực 4 - Lạng Sơn; - VKSND khu vực 4 - Lạng Sơn; - Phòng THA khu vực 4- Lạng Sơn; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - P. GĐKTTTr&THA; - Lưu: Hồ sơ; Tòa HS; HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Minh Thùy |