vanban.org

Bản án 05/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Nguyễn Thị T.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T ly hôn anh Dương Đức H. Về con chung: Giao con chung Dương Gia N, sinh ngày 13/5/2013 và Dương Uyên N1, sinh ngày 18/7/2014 cho chị Nguyễn Thị T có quyền và nghĩa vụ trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến tuổi trưởng thành. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Nguyễn Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 – LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 15/01/2026
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Đức Dầu và ông Nguyễn Sỹ Thông

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Hải – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng tham gia phiên toà: Bà Lại Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 01 năm 2026 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 91/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 22/2025/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh ngày 07/5/1994; CCCD: xxxxxxxxxxxx.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng – Có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Dương Đức H, sinh ngày 11/12/1985; CCCD: xxxxxxxxxxxx.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện đề ngày 26/6/2025, bản tự khai, biên bản lấy lời khai của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày: Chị Nguyễn Thị T và anh Dương Đức H là vợ chồng, có đăng ký kết hôn vào ngày 06/12/2012 tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (Nay là xã Đ, tỉnh Lâm Đồng). Qúa trình chung sống, anh chị có nhiều mâu thuẫn vợ chồng do bất đồng quan điểm sống, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị T nhận thấy hôn nhân của anh chị không thể hàn gắn được, hiện nay chị T và anh H không còn sống chung với nhau nên chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị T được ly hôn với anh Dương Đức H.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Dương Đức H có 02 con chung Dương Gia N, sinh ngày 13/5/2013 và Dương Uyên N1, sinh ngày 18/7/2014, hiện nay các con chung đang ở với chị T. Sau khi ly hôn, chị T có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến tuổi trưởng thành. Không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đối với anh Dương Đức H: Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Dương Đức H không đến Tòa án làm việc nên Tòa án nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng đã phối hợp với chính quyền địa phương lập biên bản về việc không tống đạt được văn bản của Tòa án và niêm yết theo quy định của pháp luật để làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án.

Kết quả thu thập chứng cứ: Đại diện chính quyền địa phương cung cấp, anh Dương Đức H có hộ khẩu thường trú thôn Đ, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng, hiện nay anh Dương Đức H đang sinh sống tại địa phương nhưng thường xuyên không có mặt ở nhà. Vì vậy, Tòa án không thể tống đạt văn bản trực tiếp cho anh Dương Đức H được, Tòa án có phối với hợp với địa phương liên lạc qua số điện thoại của anh H. Về mâu thuẫn vợ chồng, quá trình chung sống tại địa phương thì địa phương không nắm rõ tình trạng mâu thuẫn vợ chồng, khi xảy ra mâu thuẫn vợ chồng anh H và chị T không yêu cầu địa phương hòa giải.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và sự tuân theo pháp luật tố tụng của nguyên đơn, bị đơn trong vụ án:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký từ khi thụ lý vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình; bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, trong quá trình giải quyết vụ án, sau khi đưa vụ án ra xét xử anh H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Dương Đức H.

- Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T ly hôn với anh Dương Đức H.

Về con chung: Giao con chung Dương Gia N, sinh ngày 13/5/2013 và Dương Uyên N1, sinh ngày 18/7/2014 cho chị Nguyễn Thị T có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Anh Dương Đức H có quyền đi lại thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được cản trở hoặc gây trở ngại đến việc thăm nom, giáo dục con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đề cập giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết tranh chấp:

Chị Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con khi ly hôn với anh Dương Đức H; anh Dương Đức H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025; quan hệ pháp luật yêu cầu giải quyết là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

. Về nội dung vụ án.

. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Dương Đức H đăng ký kết hôn vào ngày 06/12/2012 tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (Nay là xã Đ, tỉnh Lâm Đồng) theo quy định của pháp luật trên cơ sở tự nguyện, đời sống hôn nhân giữa chị T và anh H thường xuyên nảy sinh mâu thuẫn và bất hòa, nguyên nhân là do cả hai không cùng quan điểm sống, chị T có nguyện vọng được ly hôn với anh H.

Theo kết quả xác minh tại địa phương cung cấp: Chị T và anh H không báo với địa phương về tình hình mâu thuẫn vợ chồng và không yêu cầu hòa giải mâu thuẫn gia đình. Tuy nhiên, địa phương nắm được thông tin, hiện nay anh H và chị T không còn sống chung với nhau.

Hội đồng xét xử xét thấy, Chị Nguyễn Thị T và anh Dương Đức H mâu thuẫn giữa chị T và anh H là trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận cho chị Nguyễn Thị T ly hôn với anh Dương Đức H.

. Về con chung: Chị Nguyễn Thị T có nguyện vọng nuôi con chung là Dương Gia N, sinh ngày 13/5/2013 và Dương Uyên N1, sinh ngày 18/7/2014, sau khi chị T và anh H không sống chung với nhau thì các con chung ở với chị T; cháu N và cháu N1 có nguyện vọng được ở với chị T nên giao các con chung cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi là phù hợp, đúng với nguyện vọng của con chung. Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập giải quyết.

Anh Dương Đức H có quyền đi lại thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được cản trở hoặc gây trở ngại đến việc thăm nom, giáo dục con chung.

. Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không đề cập giải quyết.

. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật.

[4.]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Lâm Đồng là có căn cứ nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.

Áp dụng Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Nguyễn Thị T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T ly hôn anh Dương Đức H.

2. Về con chung: Giao con chung Dương Gia N, sinh ngày 13/5/2013 và Dương Uyên N1, sinh ngày 18/7/2014 cho chị Nguyễn Thị T có quyền và nghĩa vụ trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến tuổi trưởng thành.

Anh Dương Đức H có quyền đi lại thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được cản trở hoặc gây trở ngại đến việc thăm nom, giáo dục con chung.

Việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn; quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau ly hôn; quyền và nghĩa vụ của cha mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Vì lợi ích của con chung theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn; yêu cầu cấp dưỡng, thay đổi mức cấp dưỡng, chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng hoặc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định các Điều 84; Điều 110; Điều 117; Điều 118 và Điều 119 Luật Hôn nhân và Gia đình.

4. Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí tại Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng theo biên lai số 0004186 ngày 07 tháng 10 năm 2025.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ