vanban.org

Bản án 05/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị N.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Mai Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Đức M. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Bảo Trâm, sinh ngày 20/01/2023 cho chị Mai Thị N có nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục khi cháu Trâm chưa thành niên, đã thành niên mà mất năng lực hành vi dân sự hoặc k… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 – G

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2026/HNGĐ-ST
Ngày 02/02/2026
“V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con
chung”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - G

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Đặng Anh Việt.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Đình Hưng và ông Phạm Văn Miền.

- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị M Chinh - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 8 – G.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – G tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 02 năm 2026, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân Khu vực 8 – G tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 97/2025/TLST-HNGĐ ngày 06/10/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 06/10/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 07/2026/QĐST-HNGĐ, ngày 16/01/2026, giữa các đương sự:

- N đơn: Chị Mai Thị N, sinh năm 1999; địa chỉ: Thôn Chư Bồ 1, xã Ia Dơk, tỉnh G.

Có mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Đức M, sinh năm 1995; địa chỉ: Tổ dân phố 3, xã Đức Cơ, tỉnh G.

Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, N đơn chị Mai Thị N trình bày:

Chị Mai Thị N và anh Nguyễn Đức M có trải qua thời gian tìm hiểu và tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Chư Ty, huyện Đức Cơ, tỉnh G (cũ), nay là xã Đức Cơ, tỉnh G vào ngày 04/01/2023.

Trong thời gian chung sống, giữa chị N và anh M phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, anh M thường chửi bới, xúc phạm chị N. Cuộc sống vợ chồng không hòa thuận, không hạnh phúc. Bên cạnh đó, anh M còn thường xuyên bài bạc, phá tán tài sản gia đình, chị N đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng anh M không thay đổi được. Chị N và anh M đã sống ly thân khoảng một năm nay. Nay xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn để tiếp tục chung sống, tình cảm vợ chồng không còn nên chị N đề nghị Tòa án giải quyết cho chị N được ly hôn với anh M.

Về con chung: Chị N và anh M có 01 con chung tên: Nguyễn Ngọc Bảo Trâm, sinh ngày 20/01/2023. Cháu Trâm hiện nay đang sống cùng chị N.

Chị N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trâm cho đến khi cháu Trâm thành niên và tự lập được. Chị N không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự để các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Tuy nhiên, bị đơn anh Nguyễn Đức M không đến Toà án để tham gia tố tụng, không có lời khai tại hồ sơ và không có lời khai tại phiên toà.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8 – G:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự: N đơn đã chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, do đó Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

+ Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Mai Thị N và anh Nguyễn Đức M là hợp pháp. Quá trình chung sống, giữa chị N và anh M phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, vợ chồng đã sống ly thân một thời gian, chị N có đơn xin ly hôn, anh M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh M không đến Toà án để tham gia tố tụng. Xét thấy, quan hệ hôn nhân là sự gắn kết giữa vợ chồng, phải có sự đồng thuận, tự nguyện từ hai phía, phải có tình yêu thương, quan tâm, chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình nhưng anh, chị không ở bên nhau để yêu thương và chia sẻ những vấn đề trong cuộc sống hôn nhân, chị N không còn yêu thương anh M, không còn mong muốn chung sống cùng anh M nữa. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N.

Về con chung: Chị N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Bảo Trâm cho đến khi cháu Trâm thành niên và tự lập được. Anh M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không tham gia tố tụng tại Tòa án và cũng không có văn bản thể hiện ý kiến về việc giải quyết nuôi dưỡng con chung. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giao cháu Trâm cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Trâm thành niên và có khả năng lao động tự lập được. Anh M không phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Chị Mai Thị N khởi kiện yêu cầu ly hôn và giải quyết nuôi con chung với anh Nguyễn Đức M có địa chỉ tại: tổ dân phố 3, xã Đức Cơ, tỉnh G. Vì vậy đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 8 – G theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Đức M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, do đó Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Mai Thị N và anh Nguyễn Đức M trải qua thời gian tìm hiểu, tiến tới hôn nhân và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đức Cơ, tỉnh G, vì vậy hôn nhân giữa chị N và anh M là hợp pháp theo đúng quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình. Quá trình chung sống với anh M, nhận thấy mâu thuẫn phát sinh trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị N khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với anh M.

Hội đồng xét xử xét thấy, quan hệ hôn nhân là sự gắn kết giữa vợ chồng, phải có sự đồng thuận, tự nguyện từ hai phía, phải có tình yêu thương, quan tâm, chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình nhưng chị N và anh M không ở bên nhau để yêu thương và chia sẻ những vấn đề trong cuộc sống hôn nhân, chị N không còn yêu thương anh M, không còn mong muốn chung sống cùng anh M nữa. Như vậy, chị N và anh M đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Quá trình giải quyết vụ án, anh M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia hòa giải, lấy lời khai, tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt và cũng không có ý kiến gì. Điều đó thể hiện anh M không còn quan tâm tới quan hệ hôn nhân với chị N, không mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Vì vậy, chị N yêu cầu ly hôn với anh M là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên cần chấp nhận.

Về con chung: Chị N và anh M có 01 con chung tên: Nguyễn Ngọc Bảo Trâm, sinh ngày 20/01/2023.

Chị N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trâm cho đến khi cháu Trâm trưởng thành và tự lập được. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Trâm đang còn nhỏ, lại là con gái, cần sự chăm sóc của người mẹ, chị N có đủ điều kiện để nuôi dưỡng, đảm bảo sự phát triển toàn diện của cháu Trâm, từ khi chị N và anh M sống ly thân đến nay, cháu Trâm do một mình chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Quá trình giải quyết vụ án, anh M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không tham gia tố tụng tại Tòa án và cũng không có văn bản thể hiện nguyện vọng muốn nuôi dưỡng cháu Trâm. Do đó, cần giao cháu Nguyễn Ngọc Bảo Trâm cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Trâm thành niên và tự lập được là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị N không yêu cầu anh M phải cấp dưỡng nuôi con chung và anh M cũng không có ý kiến. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết và anh M cũng không có ý kiến. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị Mai Thị N là N đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ Luật tố tụng dân sự;

- Các Điều 9, 19, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị N.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Mai Thị N được ly hôn với anh Nguyễn Đức M.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Bảo Trâm, sinh ngày 20/01/2023 cho chị Mai Thị N có nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục khi cháu Trâm chưa thành niên, đã thành niên mà mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Anh Nguyễn Đức M không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng quyền thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng.

3. Về án phí: Buộc chị Mai Thị N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch về ly hôn để sung quỹ nhà nước, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà chị N đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002572, ngày 02/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh G. Chị N đã nộp đủ án phí.

N đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 02/02/2026, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ Luật tố tụng Dân sự để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh G xét xử phúc thẩm.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ