- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lường Thị L và Tạ Bá P"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lường Thị L.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật tố tụng hành chính; Luật phá sản
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2026/HNGĐ-ST Ngày 11/02/2026 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Triệu Văn Mẫn.
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Miên
2. Bà Triệu Thị Biên
- Thư ký phiên tòa: Bà Ma Thị Khuyến – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thái Nguyên
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Tập - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 02 năm 2026, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân khu vực 7
- Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 86/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2026/QĐXXST- HNGĐ ngày 23/01/2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lường Thị L; sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn B, xã Y, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Tạ Bá P; sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn B, xã Y, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lường Thị L trình bày:
Chị L và anh Tạ Bá P kết hôn tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 10/12/2012 tại Ủy ban nhân dân xã Y, tỉnh Thái Nguyên. Sau khi kết hôn vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do là do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân. Chị L và anh P đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị L đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh P.
Về con chung: Chị L và anh P có 01 con chung tên là Tạ Minh T, sinh ngày 25/7/2016. Hiện nay con chung đang ở với chị L. Ly hôn chị L có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con cho đến khi con đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Tạ Bá P biết việc Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án ly hôn giữa anh và chị L, được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa án làm việc do anh đang đi làm ăn xa, không thể về giải quyết vụ việc. Anh P có gửi bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt đến Tòa án.
Tại phiên tòa hôm nay chị L và anh P đều có đơn xin xét xử vắng mặt, trong đơn trình bày rõ quan điểm mong muốn được ly hôn và giao con chung cho chị L trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục, còn các vấn đề về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và nợ chung đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Thẩm phán đã xác định đúng về thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, về tư cách tham tụng, về thu thập tài liệu, chứng cứ; việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự; về thời gian gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228, Điều 238; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều luật của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải đối thoại tại Tòa án năm 2025; các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Lường Thị L được ly hôn với anh Tạ Bá P; Về con chung: Giao con chung cho chị L trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và nợ chung các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Lường Thị L khởi kiện xin ly hôn với anh Tạ Bá P có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn B, xã Y, tỉnh Thái Nguyên. Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân khu vực 7 – Thái Nguyên theo quy định tại theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều luật của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải đối thoại tại Tòa án năm 2025.
Về trình tự, thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành các trình tự giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa các đương sự đều có đơn xin vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Căn cứ đơn khởi kiện, lời trình bày của các đương sự và đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lường Thị L và anh Tạ Bá P kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Y, tỉnh Thái Nguyên ngày 10/12/2012 là hôn nhân hợp pháp. Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quá trình chung sống giữa vợ chồng chị L và anh P có mâu thuẫn trầm trọng. Kết quả xác minh đối với người thân trong gia đình của anh P và chính quyền địa phương nơi anh P và chị L chung sống thể hiện: Vợ chồng anh P và chị L có nhiều mâu thuẫn, anh P và chị Lo đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án giữa chị L và anh P đều có quan điểm muốn được ly hôn. Như vậy, có đủ cơ sở xác định hôn nhân của chị L và anh P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.
Về con chung: Chị Lường Thị L và anh Tạ Bá P có 01 con chung tên là Tạ Minh T sinh ngày 25/7/2016, hiện nay con đang ở với chị L. Ly hôn chị L có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con cho đến khi con đủ 18 tuổi. Anh P cũng nhất trí giao con cho chị L chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Nguyện vọng của con chung cũng mong muốn được mẹ là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do vậy, giao con chung cho chị L trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục sẽ đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con và phù hợp với quy định pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều luật của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải đối thoại tại Tòa án năm 2025; khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lường Thị L.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lường Thị L được ly hôn với anh Tạ Bá P.
2. Về con chung: Giao con chung tên là Tạ Minh T, sinh ngày 25/7/2016 cho chị Lường Thị L trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Sau khi ly hôn, anh Tạ Bá P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định của pháp luật mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: Chị Lường Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền số: 0003013 ngày 24 tháng 12 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.
5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn và bị đơn đều vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
"Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên: - VKS Khu vực 7 - Thái Nguyên; - Phòng THADS khu vực 7 -Thái Nguyên; - UBND xã Y; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Triệu Văn Mẫn |