vanban.org

Bản án 05/2026/HNGĐ-PT — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 04/02/2026 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 04/02/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn với ông Nguyễn Văn H.

Về án phí: 1 Về án phí dân sự sơ thẩm : Buộc bà Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001141 ngày 23/7/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn với ông Nguyễn Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2026/HNGĐ-PT
Ngày 04-02-2026
“Tranh chấp về thay đổi người trực
tiếp nuôi con sau khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Hạnh.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hồng Chương, ông Dương Hà Ngân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Vinh – Thư ký, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Vương Thị Bắc – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng (cơ sở 2) xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 02/2026/TLPT-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2026 về việc “Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 83/2026/QĐXXPT-HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2026, do Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 11/2025/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6, tỉnh Lâm Đồng) bị kháng cáo, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1985; nơi ĐKHKTT: Thôn N, phường Đ, tỉnh Lâm Đồng; Nơi ở hiện nay: Ấp 6, xã B, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt)

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn N, phường Đ, tỉnh Lâm Đồng (Có mặt)

*/ Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Trần Thị H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trần Thị H trình bày:

Bà Trần Thị H và ông Nguyễn Văn H thuận tình ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số: 52/2024/QÐST-HNGĐ, ngày 22 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông (nay là Toà án nhân dân khu vực 6 – Lâm Đồng). Theo nội dung Quyết định trên, bà Trần Thị H và ông Nguyễn Văn H thống nhất thỏa thuận giao cho ông Nguyễn Văn H được quyền trực tiếp nuôi con chung là cháu Nguyễn Đăng K, sinh ngày 20/9/2020. Bà Trần Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Tuy nhiên, sau khi Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, bà Trần Thị H đến thăm con và xin đón con đi chơi thì ông Nguyễn Văn H gây khó dễ, cản trở bà thực hiện quyền làm mẹ của mình. Bà Trần Thị H cho rằng ông Nguyễn Văn H có những hành vi không đúng mực như “quan hệ với người phụ nữ tên O" trước mặt con dẫn đến việc con bị ảnh hưởng xấu. Đồng thời ông Nguyễn Văn H nợ tiền học phí của cháu Nguyễn Đăng K tại Trường mầm non Mi Sa 03 tháng cuối của năm học 2023-2024 và nguyên năm học 2024-2025. Điều này thể hiện ông Nguyễn Văn H vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ chăm sóc và nuôi dưỡng con chung.

Hiện tại bà Trần Thị H đang làm ở tiệm tóc T tại thành phố Hồ Chí Minh, thu nhập đủ điều kiện nuôi con nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con, cho bà Trần Thị H được quyền trực tiếp nuôi con, bà không yêu cầu ông Nguyễn Văn H cấp dưỡng nuôi con.

2. Bị đơn ông Nguyễn Văn H trình bày:

Từ khi ông Nguyễn Văn H được Tòa án giao quyền trực tiếp nuôi con đến nay thì ông vẫn nuôi dạy con tốt, cháu phát triển bình thường và được ông Nguyễn Văn H đưa đi học tại Trường mẫu giáo ở địa phương. Ông Nguyễn Văn H thừa nhận ông có nợ tiền học phí của cháu Nguyễn Đăng K do ông phải trả nợ chung trong thời kì hôn nhân, dẫn đến chậm trong việc đóng học phí. Tuy nhiên, ngày 19/9/2025 ông Nguyễn Văn H đã hoàn thành xong nghĩa vụ đóng học phí cho cháu Nguyễn Đăng K và đã có Giấy xác nhận từ phía nhà trường. Việc bà Trần Thị H cho rằng ông Nguyễn Văn H có hành vi cản trở, gây khó khăn khi bà Trần Thị H đến thăm và đón con là không đúng sự thật. Hơn nữa, hiện tại bà Trần Thị H đi làm thuê tại tiệm tóc, không có nơi ở ổn định, không có đủ điều kiện về kinh tế, phải chăm sóc và nuôi dưỡng con riêng nên ông không đồng ý chuyển giao quyền trực tiếp nuôi con cho bà Trần Thị H.

Bản án dân sự sơ thẩm số: 11/2025/HNGĐ-ST ngày 27-9-2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Lâm Đồng đã căn cứ các quy định của pháp luật, tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn với ông Nguyễn Văn H.

Ngoài ra cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và thông báo quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 14-10-2025, bà Trần Thị H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị sửa bản án theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện.

*/ Tại phiên tòa người kháng cáo không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ nào mới và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm giải quyết tuyên sửa bản án sơ thẩm, theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

*/ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu ý kiến:

- Về t tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và tại phiên toà phúc thẩm, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Sau khi phân tích các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn. Giữ nguyên Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST ngày 27-9-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6, tỉnh Lâm Đồng. Do kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến các đương sự, quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng, Hội đồng xét xử xét thấy:

. Về tố tụng: Căn cứ khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự, bà Trần Thị H kháng cáo trong thời hạn luật định. Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng thụ lý vụ án để xem xét kháng cáo của nguyên đơn theo trình tự phúc thẩm.

. Về nội dung giải quyết và yêu cầu kháng cáo: Bà Trần Thị H kháng cáo yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung là cháu Nguyễn Đăng K từ ông Nguyễn Văn H sang cho bà trực tiếp nuôi dưỡng với lý do ông Nguyễn Văn H cản trở việc thăm nom con, có hành vi không đúng mực trước mặt con và không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con, thể hiện qua việc nợ học phí kéo dài.

Hội đồng xét xử xét thấy, theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 52/2024/QĐST-HNGĐ ngày 22/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, bà Trần Thị H và ông Nguyễn Văn H đã tự nguyện thỏa thuận giao cháu Nguyễn Đăng K cho ông Nguyễn Văn H trực tiếp nuôi dưỡng. Quyết định này có hiệu lực pháp luật và là căn cứ pháp lý xác lập sự ổn định trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Đăng K kể từ thời điểm ly hôn đến nay. Theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn chỉ được đặt ra khi có căn cứ cho rằng người đang trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc việc thay đổi là cần thiết để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên. Như vậy, nghĩa vụ chứng minh thuộc về người yêu cầu thay đổi.

Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bà Trần Thị H cho rằng ông Nguyễn Văn H cản trở việc thăm nom con, có hành vi không chuẩn mực trước mặt con và chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ chăm sóc con. Tuy nhiên, bà Trần Thị H không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh cho các nội dung này. Phía ông Nguyễn Văn H không thừa nhận các nội dung mà bà Trần Thị H trình bày. Do đó, các nội dung trên chỉ là lời trình bày một phía, không đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét theo hướng bất lợi cho ông Nguyễn Văn H. Đối với việc ông Nguyễn Văn H chậm đóng học phí cho cháu Nguyễn Đăng K, ông Nguyễn Văn H đã thừa nhận thiếu sót và đã cung cấp xác nhận của nhà trường thể hiện đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính trước thời điểm xét xử sơ thẩm. Hội đồng xét xử nhận thấy đây là thiếu sót trong quá trình thực hiện nghĩa vụ nuôi con, tuy nhiên đã được khắc phục kịp thời, không đến mức xác định là vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con theo quy định của pháp luật.

Mặt khác, cháu Nguyễn Đăng K sinh năm 2020, hiện đang trong giai đoạn phát triển tâm sinh lý đặc biệt nhạy cảm, rất cần sự ổn định về môi trường sống, sinh hoạt, học tập và các mối quan hệ xung quanh. Từ khi được giao cho ông Nguyễn Văn H trực tiếp nuôi dưỡng đến nay, cháu vẫn sinh sống ổn định tại địa phương, được đi học, sinh hoạt bình thường. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con trong thời điểm này đồng nghĩa với việc thay đổi toàn bộ môi trường sống của cháu, từ nơi ở, trường lớp, nếp sinh hoạt và các mối quan hệ quen thuộc, điều này có thể ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển tâm lý của trẻ.

Trong khi đó, bà Trần Thị H hiện đang làm việc và sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh, chưa chứng minh được có nơi ở ổn định, điều kiện kinh tế và môi trường sống tốt hơn để đảm bảo cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Đăng K một cách ổn định, lâu dài. Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ để xác định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con là cần thiết và có lợi hơn cho cháu Nguyễn Đăng K tại thời điểm hiện nay.

. Từ những phân tích, nhận định trên xét thấy Bản án sơ thẩm tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị H là có căn cứ, đúng pháp luật. Do đó, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị H. Xét quan điểm của Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

. Về án phí: Do kháng cáo của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Trần Thị H. Giữ nguyên bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 11/2025/HNGĐ-ST ngày 27-9-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Lâm Đồng.

Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị H về việc yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn với ông Nguyễn Văn H.

2. Về án phí:

2.1 Về án phí dân sự sơ thẩm : Buộc bà Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001141 ngày 23/7/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.

2.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Buộc bà Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0007237 ngày 31/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.

3. Đối với những quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ