vanban.org

Bản án 05/2025/HSST — Hình sự

TAND Q. Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng Tuyên án 08/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Công P phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

Xử phạt: Bị cáo Lê Công P 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bị bắt ngày 29/8/2024. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 BLHS; Điều 584, Điều 589 BLDS: Buộc bị cáo Lê Công P có trách nhiệm bồi thường cho bà Đỗ Thị H số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Truy tố bị cáo Lê Công P phạm tội " Lừa đảo chiếm đoạt tài sản " quy định tại khoản 1 điều 174 BLHS. - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Công P phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu sung ngân sách nhà nước; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGŨ HÀNH SƠN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/HSST
Ngày 08/01/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN- TP. ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trâm

Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Huỳnh Bá Dương

2. Ông Nguyễn Dũng

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang- Thư ký Tòa án nhân dân Quận Ngũ Hành Sơn TP Đà Nẵng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn TP Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Trà - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Uỷ ban nhân dân phường H, quận N, Tp Đà Nẵng xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 137/2024/HS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2024/QĐXXST - HS ngày 26 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:

- Họ tên: Lê Công P. Giới tính: nam; Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 28/6/200x tại: Quảng Trị; ĐKHKTT: Đội 2, thôn N, Xã. T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; Chỗ ở: 16 T, P.K, Q.N, TP.Đà Nẵng; Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Sinh viên; Con ông: Lê Văn P (sinh năm 196x), con bà: Võ Thị H (sinh năm 196x). Cùng trú tại: Đội 2, thôn N, Xã. T, huyện T, tỉnh Quảng Trị. Gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt ngày 29/8/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an TP.Đà Nẵng. Có mặt tại phiên toà.

- Người bị hại:

1. Bà Đỗ Thị H, sinh năm: 199x. Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

2. Ông Huỳnh Văn Đ, sinh năm: 199x. Địa chỉ: Ấp R, xã N, huyện D, tỉnh Trà Vinh. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Lê Đình H, sinh năm: 198x. Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

2. Ông Đàm Văn U, sinh năm: 198x. Địa chỉ: Khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Vắng mặt.

3. Anh Nguyễn Xuân B, sinh năm: 200x. Địa chỉ: Tổ 1, khu phố 4, phường 1, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt.

- 1 -

4. Chị Trần Mỹ D, sinh năm: 200x. Địa chỉ: 89 H, phường H, quận H, TP.Đà Nẵng. Có mặt.

5. Bà Võ Thị H, sinh năm: 197x và ông Lê Văn P, sinh năm: 196x. Cùng địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị. Bà H, ông P có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 6/2022, Lê Công P gặp và quen biết với một đối tượng tên “H” (không rõ lai lịch) thông qua chơi game Internet tại thị xã Q, tỉnh Quảng Trị. Đối tượng tên “H” nói với P rằng “có muốn kiếm tiền không” thì P đồng ý. Sau đó, “H” hướng dẫn P truy cập vào trang Facebook “Phạm Công H” để mua tài khoản Facebook của người khác. P sẽ đăng nhập tài khoản Facebook đã mua được rồi tiến hành đổi một số thông tin liên quan đến tài khoản Facebook đó như: email, số điện thoại, mã bảo vệ tài khoản rồi lưu tên đăng nhập và mật khẩu trên trang notepad. P bắt đầu sử dụng tài khoản Facebook mua được để nhắn tin mượn tiền của người thân, bạn bè có kết bạn với tài khoản Facebook đó hoặc gửi các đường link như https://thivuadaubep2024-binhchoncuothi.weebly.com để kêu gọi bình chọn cho các cuộc thi nhằm chiếm đoạt tài khoản Facebook. Khi người dùng tài khoản Facebook bấm vào đường link trên thì sẽ hiện ra một trang web và đề nghị người dùng tài khoản Facebook đó phải cung cấp một số thông tin liên quan đến tài khoản Facebook mà họ đang sử dụng. Tiếp theo, P nhập thông tin tên tài khoản của họ vào và bấm quên mật khẩu, lúc này mã OTP Facebook sẽ gửi tin nhắn về điện thoại hoặc gmail cho chính chủ của những tài khoản facebook này. P tiếp tục sử dụng tài khoản giả để nhắn tin yêu cầu những người này gửi mã số OTP mà họ vừa nhận được qua (với lý do đây là những mã bình chọn mà facebook gửi cho chủ tài khoản), khi chủ tài khoản chuyển cho P mã số này P nhập vào web, dùng để đổi mật khẩu facebook và P sử dụng tài khoản facebook vừa chiếm đoạt để nhắn tin mượn tiền của người thân, bạn bè có kết bạn với tài khoản facebook đó.

Khi người bị hại đồng ý cho mượn tiền P sẽ yêu cầu họ chuyển khoản vào tài khoản theo yêu cầu của người quản lý đại lý game K. Khi tiền đã chuyển thành công, P sẽ nhắn tin qua Telegram với tài khoản người quản lý đại lý game K để yêu cầu đại lý game K chuyển tiền đến tài khoản game của P thuộc game K (đăng nhập từ website: https://kingfunxxx.club). Để nhận được tiền, P phải chơi game thua và sau đó chuyển số tiền còn lại sau khi bị thua ở trong game về 02 tài khoản ngân hàng Vietcombank, số tài khoản: 0771000609xxx hoặc tài khoản ngân hàng MBBank, số tài khoản: 7898888xxx mang tên Lê Công P đứng tên hoặc nhận tiền mặt được để ở vị trí nhất định.

Những tài khoản Facebook mà P chiếm quyền sử dụng và các dữ liệu phục vụ hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản sẽ được lưu tại tài khoản “eto3333” trên trang https://notepad.pw và trong ghi chú trên điện thoại di động Iphone 14 Promax, số IMEI: 356266768765xxx của Lê Công P.

Từ tháng 6/2022 đến tháng 9/2024, Lê Công P đến thuê phòng trọ tại: Số 16 T, phường K, quận N và thực hiện hành vi lừa đảo bằng việc chiếm quyền sử

- 2 - dụng khoảng 200 tài khoản facebook chiếm đoạt tài sản của nhiều bị hại với số tiền thu lợi bất chính khoảng 80.000.000 đồng và sử dụng 20.000.000 đồng mua điện thoại Iphone 14 Promax màu tím, 25.000.000 đồng xe góp với số tiền bố mẹ P cho để mua xe mô tô Honda SH 125i màu trắng gắn BKS: 74AD-048.xx, 3.000.000 đồng mua điện thoại Apple Iphone X màu đen để sử dụng (bị tạm giữ khi bị phát hiện), số tiền còn lại P sử dụng tiêu xài cá nhân. Quá trình điều tra xác định được P đã 02 lần thực hiện hành lừa đảo chiếm đoạt của 02 bị hại như sau:

Lần 1: Ngày 07/8/2023, Lê Công P chiếm quyền sử dụng tài khoản facebook tên “X” của ông Lê Đình H (sinh năm 198x, trú: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa) và P giả danh ông H để nhắn tin với tài khoản facebook tên “H” của bà Đỗ Thị H (sinh năm 199x, trú tại: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa) với nội dung mượn tiền và yêu cầu chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng Techcombank số 19071628217xxx mang tên “LE DINH H”. Tin tưởng đó là chồng của mình nên bà H đã chuyển số tiền là 7.000.000 đồng theo yêu cầu của P.

Lần 2: Ngày 07/8/2024, Lê Công P chiếm quyền sử dụng tài khoản facebook tên “H” của ông Đàm Văn U (sinh năm 26/6/198x, trú: khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, số CCCD: 077085001xxx cấp ngày 19/4/2021) và P giả danh ông U để nhắn tin với tài khoản facebook tên “D” của ông Huỳnh Văn Đ (sinh năm 199x, trú: Ấp R, xã N, huyện D, tỉnh Trà Vinh) với nội dung mượn số tiền 8.000.000 đồng và yêu cầu chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng VPBank số 338593xxx mang tên “TRAN THI D”. Tin tưởng đó là ông U nên ông Đ đã chuyển khoản số tiền 8.000.000 đồng theo yêu cầu của P.

Tổng số tiền P lừa đảo chiếm đoạt của 02 bị hại là 15.000.000 đồng.

Tang vật tạm giữ:

- 01 điện thoại di động hiệu Apple Iphone X màu đen số Imei: 353043093987xxx.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím số Imei: 356266768765xxx.

- 01 mô tô nhãn hiệu Honda SH 125i màu trắng gắn BKS: 74AD-048.xx và 01 giấy đăng ký xe mô tô BKS: 74AD-048.xx.

- Số tiền: 4.100.000 đồng.

Cơ quan CSĐT Công an quận N đã tiến hành trưng cầu giám định đường link https://thivuadaubep2024-binhchoncuothi.weebly.com/ tại Phòng Kỹ thuật hình sự CATP Đà Nẵng và Phân viện Khoa học hình sự tại Đà Nẵng về nội dung: đường link https://thivuadaubep2024-binhchoncuothi.weebly.com/có chứa chương trình, phần mềm gây hại cho mạng máy tính, mạng viễn thông hay không, kết quả trả lời của 02 cơ quan là không thể giám định nội dung trên.

Cơ quan CSĐT Công an quận N đã có thông báo tìm bị hại trên phương tiện truyền thanh và truyền hình Việt Nam nhưng hiện không có thêm người bị hại nào đến trình báo.

Về bồi thường dân sự:

- Ông Huỳnh Văn Đ đã nhận số tiền 8.000.000 đồng do ông Lê Văn P (bố ruột của P) bồi thường và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

- Bà Đỗ Thị H yêu cầu bồi thường số tiền 7.000.000 đồng.

- 3 -

* Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận N giữ nguyên quan điểm truy tố theo Bản cáo trạng số 135/CT-VKS-NHS ngày 29/11/2024 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Lê Công P phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đồng thời đề nghị:

- Áp dụng khoản 1 điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Lê Công P từ 12 tháng đến 15 tháng tù.

- Xử lý vật chứng, đồ vật tạm giữ: Căn cứ điều 47 Bộ luật Hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nước số tài sản của bị cáo Phi có được từ việc phạm tội:

+ 01 điện thoại di động hiệu Apple Iphone X màu đen số Imei: 353043093987xxx.

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím số Imei: 356266768765xxx.

+ 01 mô tô nhãn hiệu Honda SH 125i màu trắng- đen; dung tích: 124.8 cm3 số khung: RLHJF9523RY003xxx; số máy: JK18E0025xxx; gắn BKS: 74AD-048.xx và 01 giấy đăng ký xe mô tô BKS: 74AD-048.xx mang tên Lê Công P.

+ Số tiền 4.100.000 đồng.

- Về phần dân sự: Căn cứ Điều 48 BLHS; Điều 584, Điều 589 BLDS đề nghị buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bà Đỗ Thị H số tiền 7.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với phần luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bị cáo Lê Công P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo, xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu điều tra thu thập đầy đủ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định: Ngày 07/8/2023 và ngày 07/8/2024, tại: Số 16 T, phường K, quận N, Lê Công P đã 02 lần chiếm quyền sử dụng tài khoản facebook của người khác rồi nhắn tin người thân, bạn bè của chủ tài khoản mượn tiền và đã chiếm đoạt được

- 4 - tổng số tiền 15.000.000 đồng của 02 người bị hại (trong đó: sử dụng tài khoản facebook tên “X” của ông Lê Đình H chiếm đoạt của bà Đỗ Thị H số tiền 7.000.000 đồng và sử dụng tài khoản facebook tên “H” của ông Đàm Văn U chiếm đoạt của ông Huỳnh Văn Đ số tiền 8.000.000 đồng). Ngoài ra, P còn lừa đảo chiếm đoạt của nhiều người nhưng hiện chưa xác định được bị hại. Hành vi trên đây của bị cáo Lê Công P đã phạm vào tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" quy định tại khoản 1 điều 174 của BLHS. Do đó cáo trạng số 135/CT-VKS-NHS ngày 29/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận N đã truy tố là có cơ sở, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội thì thấy: Với mục đích chiếm đoạt tài sản để có tiền tiêu xài cho bản thân, bị cáo đã dùng những thủ đoạn gian dối nhằm đánh lừa chủ sở hữu làm cho chủ sở hữu nghĩ rằng bị cáo là người thân quen của họ nên đã tin tưởng mà chuyển tiền cho bị cáo. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bản thân bị cáo nhận thức được hành vi trên là hành vi vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm và trừng trị nghiêm khắc, thế nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Bị cáo thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý trực tiếp, vì mục đích vụ lợi.

Hành vi phạm tội của bị cáo P là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân đây là một trong những khách thể quan trọng luôn được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế- xã hội, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Trong vụ án này bị cáo thực hiện 02 lần lừa đảo chiếm đoạt tài sản với số tiền mỗi lần chiếm đoạt trên 2.000.000 đồng nên P phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo cũng đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho người bị hại là ông Huỳnh Văn Đ nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Đã áp dụng hình phạt chính là hình phạt tù nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 BLHS; Điều 584, Điều 589 BLDS: Buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bà Đỗ Thị H số tiền 7.000.000 đồng.

Xử lý vật chứng, đồ vật tạm giữ: Xác định số tài sản tạm giữ của bị cáo có được từ việc chiếm đoạt tài sản của người bị hại. Cụ thể: Từ tháng 6/2022 đến tháng 9/2024, Lê Công P đến thuê phòng trọ tại: Số 16 T, phường K, quận N và

- 5 - thực hiện hành vi lừa đảo bằng việc chiếm quyền sử dụng khoảng 200 tài khoản facebook chiếm đoạt tài sản của nhiều bị hại với số tiền thu lợi bất chính khoảng 80.000.000 đồng và sử dụng 20.000.000 đồng mua điện thoại Iphone 14 Promax màu tím, 25.000.000 đồng xe góp với số tiền bố mẹ P cho (bố mẹ P cho 50.000.000 đồng) để mua xe mô tô Honda SH 125i màu trắng gắn BKS: 74AD-048.xx; 3.000.000 đồng mua điện thoại Apple Iphone X màu đen để sử dụng (bị tạm giữ khi bị phát hiện), số tiền còn lại P sử dụng tiêu xài cá nhân. Do vậy, căn cứ điều 47 Bộ luật Hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu sung ngân sách nhà nước:

+ 01 điện thoại di động hiệu Apple Iphone X màu đen số Imei: 353043093987xxx.

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím số Imei: 356266768765xxx.

+ 01 mô tô nhãn hiệu Honda SH 125i màu trắng- đen; dung tích: 124.8 cm3 số khung: RLHJF9523RY003xxx; số máy: JK18E0025xxx; gắn BKS: 74AD-048.xx và 01 giấy đăng ký xe mô tô BKS: 74AD-048.xx mang tên Lê Công P.

(Hiện do Chi cục Thi hành án dân sự quận N quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/12/2024).

- Số tiền 4.100.000 đồng (theo Giấy nộp tiền ngày 05/12/2024 của Công an quận N tại Kho bạc Nhà nước quận N).

Xét các nội dung đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận N về tội danh, điều khoản luật và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần áp dụng đối với bị cáo tại phiên tòa cơ bản phù hợp các nhận định của Hội đồng xét xử.

Án phí HSST, DSST: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Công P phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS.

Xử phạt: Bị cáo Lê Công P 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bị bắt ngày 29/8/2024.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 BLHS; Điều 584, Điều 589 BLDS: Buộc bị cáo Lê Công P có trách nhiệm bồi thường cho bà Đỗ Thị H số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng).

3. Xử lý vật chứng, đồ vật tạm giữ: Căn cứ điều 47 Bộ luật Hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu sung ngân sách nhà nước:

+ 01 điện thoại di động hiệu Apple Iphone X màu đen số Imei: 353043093987xxx của bị cáo Lê Công P.

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím số Imei: 356266768765xxx của bị cáo Lê Công P.

+ 01 mô tô nhãn hiệu Honda SH 125i màu trắng- đen; dung tích: 124.8 cm3 số khung: RLHJF9523RY003xxx; số máy: JK18E0025xxx; gắn BKS: 74AD-048.xx và 01 giấy đăng ký xe mô tô BKS: 74AD-048.xx mang tên Lê Công P.

- 6 -

(Hiện do Chi cục Thi hành án dân sự quận N quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/12/2024).

- Số tiền 4.100.000 đồng của bị cáo Lê Công P (theo Giấy nộp tiền ngày 05/12/2024 của Công an quận N tại Kho bạc Nhà nước quận Ngũ Hành Sơn).

4. Án phí HSST: Bị cáo Lê Công P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng)

Án phí DSST: Bị cáo Lê Công P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng)

Án xử công khai, bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng những người vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích sao bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ