vanban.org

Bản án 05/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hùng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Nguyễn Hùng T 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 07/11/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hùng T phạm tội “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hùng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu sung quỹ nhà nước
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUYÊN MỘC
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/HSST
Ngày: 14-01-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Dản

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Ngô Thị Quốc Thanh.

Bà Đoàn Thị Mến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Danh Thị Ngọc Lệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Thiên - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 01 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo: Nguyễn Hùng T; giới tính: Nam; sinh năm: 1978; nơi sinh: tại Hà Nội; nơi cư trú: khu phố P, thị trấn B, huyện X, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 3/12; nghề nghiệp: Không; con ông Nguyễn Văn T (đã chết); con bà: Hồ Thị T, sinh năm 1946; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân:

- Ngày 14/10/1998 bị đưa vào Cơ sở giáo dục Huy Khiêm về hành vi gây rối, thời hạn 24 tháng (theo Quyết định số 2397/QĐ-UB của Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa

- Vũng Tàu) đến ngày 04/11/2000 (chấp hành xong).

- Ngày 05/9/2001 bị đưa vào Cơ sở giáo dục Huy Khiêm về hành vi gây rối, trộm cắp tài sản với thời hạn 24 tháng (theo Quyết định số 7025/QĐ-UB của Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) đến ngày 25/6/2003 (chấp hành xong); bị bắt ngày 07/11/2024; hiện đang bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu “Có mặt”.

Bị hại: Bà Phạm Thị Kim N, sinh năm 2000; trú tại: Khu phố P, thị trấn B, huyện X, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu “Có đơn vắng mặt”.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị M, sinh năm: 1986; trú tại: Ấp V, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu “Có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 27/9/2024, Nguyễn Hùng T, sinh năm 1978; trú tại khu phố P, thị trấn B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu chạy xe đạp khi ngang qua nhà chị Phạm Thị Kim N tại khu phố Phước An, thị trấn Phước Bửu, huyện Xuyên Mộc, T ghé để xin tiền tiêu xài như những lần trước đó. Thấy cổng không khóa, T vào không thấy ai ở nhà, nhìn trên mặt bàn trong phòng khách có 03 tờ tiền đô la Mỹ, 01 tờ mệnh giá 50USD; 02 tờ đô la Mỹ mệnh giá mỗi tờ là 20USD, tổng cộng 03 tờ đô la Mỹ là 90USD để dưới tấm kính, T dùng tay nâng kính lên lấy 03 tờ đô la Mỹ bỏ vào túi quần rồi đạp xe đến tiệm vàng P, thuộc khu phố T, thị trấn P, huyện X để đổi tiền đô la sang tiền Việt Nam, nhưng chủ tiệm vàng không đổi. Lúc này, chị Phạm Thị M, sinh năm 1986; trú tại ấp V, xã P, huyện X là nhân viên của tiệm vàng có quen biết với T, do T năn nỉ nên chị Phạm Thị M đã dùng tiền cá nhân đổi cho T 90 USD thành 2.100.000 đồng.

Sau khi đổi được tiền T tiêu xài hết 200.000 đồng, còn 1.900.000 đồng T đã giao nộp lại cho Cơ quan điều tra. Quá trình làm việc, Nguyễn Hùng T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.

Vật chứng thu giữ:

- 01 tờ tiền mệnh giá 50 USD có số seri: MB01940253; 01 tờ tiền mệnh giá 20 USD số seri: PG25119771A; 01 tờ tiền mệnh giá 20 USD số seri: PL42000050B.

- 01 tờ tiền VNĐ mệnh giá 500.000 đồng số seri: MZ18088683; 01 tờ tiền VNĐ mệnh giá 500.000 đồng số seri: MZ21563059; 01 tờ tiền VNĐ mệnh giá 500.000 đồng số seri: YC16910760; 01 tờ tiền VNĐ mệnh giá 200.000 đồng số seri: LO21359507; 01 tờ tiền VNĐ mệnh giá 200.000 số seri: UB16793296 (tổng cộng là 1.900.000 đồng) thu giữ của Nguyễn Hùng T.

- 01 xe đạp màu đỏ đen là phương tiện Nguyễn Hùng T sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp.

- 01 phong bì màu trắng được niêm phong, bên trên có hình dấu của Công an thị trấn Phước Bửu cùng các chữ ký và họ tên của Hoàng Công T, Phạm Thị Kim N, Hoàng Anh T, Nguyễn Văn L. Bên trong phong bì có 01 đĩa CD-R Arita 700M lưu trữ 03 đoạn video ghi nhận lại sự việc xảy ra ngày 27/9/2024 tại khu phố P, thị trấn P, huyện X, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Kết luận định giá tài sản số 52/KL-HĐĐG ngày 11/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện Xuyên Mộc kết luận: 01 tờ tiền đô la Mỹ mệnh giá 50USD là 1.240.000 đồng; 01 tờ tiền đô la mệnh giá 20USD là 496.000 đồng, 01 tờ tiền đô la mệnh giá 20USD là 496.000 đồng. Tổng giá trị thiệt hại: 2.232.000 đồng.

Tại Bản Cáo trạng số 09/CT-VKS ngày 02/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc truy tố Nguyễn Hùng T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố Nhà nước kết luận bị cáo Nguyễn Hùng T từ phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hùng T mức án từ 07 đến 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo Nguyễn Hùng T không tranh luận mà xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại Phạm Thị Kim N đã nhận lại tài sản là 03 tờ tiền đô la Mỹ nên không có yêu cầu gì thêm.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị M đã nhận lại số tiền 1.900.000 đồng và không có yêu cầu gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Xuyên Mộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra trong tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo qui định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mới, không yêu cầu Tòa triệu tập thêm người làm chứng, người liên quan.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bản Cáo trạng số 09/CT-VKS ngày 02/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc truy tố Nguyễn Hùng T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Tại phiên tòa, Nguyễn Hùng T thừa nhận: Trưa ngày 27/09/2024, Nguyễn Hùng T đã có hành vi lén lút, đột nhập vào nhà, chị Phạm Thị Kim N, ở khu phố Phước An, thị trấn P, huyện X trộm cắp 03 tờ tiền đô la Mỹ, 01 tờ mệnh giá 50USD; 02 tờ đô la Mỹ mệnh giá mỗi tờ là 20USD, tổng cộng 03 tờ đô la Mỹ là 90USD của chị Ngân trị giá 2.232.000 đồng. Sau đó, T đạp xe đến tiệm vàng P, thuộc khu phố T, thị trấn P, huyện X để đổi tiền đô la sang tiền Việt Nam, nhưng chủ tiệm vàng không đổi. Lúc này, chị Phạm Thị M, sinh năm 1986; trú tại ấp V, xã P, huyện X là nhân viên của tiệm vàng có quen biết với T, do T năn nỉ nên chị Phạm Thị M đã dùng tiền cá nhân đổi cho T 90 USD thành 2.100.000 đồng. Sau khi đổi được tiền T tiêu xài hết 200.000 đồng, còn 1.900.000 đồng T đã giao nộp lại cho Cơ quan điều tra.

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với Kết luận định giá tài sản số 52/KL-HĐĐG ngày 11/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Xuyên Mộc; Vật chứng thu giữ: 01 tờ tiền mệnh giá 50 USD có số seri: MB01940253; 01 tờ tiền mệnh giá 20 USD số seri: PG25119771A; 01 tờ tiền mệnh giá 20 USD số seri: PL42000050B; 01 tờ tiền VNĐ mệnh giá 500.000 đồng số seri: MZ18088683; 01 tờ tiền VNĐ mệnh giá 500.000 đồng số seri: MZ21563059; 01 tờ tiền VNĐ mệnh giá 500.000 đồng số seri: YC16910760; 01 tờ tiền VNĐ mệnh giá 200.000 đồng số seri: LO21359507; 01 tờ tiền VNĐ mệnh giá 200.000 số seri: UB16793296 (tổng cộng là 1.900.000 đồng); 01 xe đạp màu đỏ đen; 01 phong bì màu trắng được niêm phong, bên trên có hình dấu của Công an thị trấn Phước Bửu cùng các chữ ký và họ tên của Hoàng Công T, Phạm Thị Kim N, Hoàng Anh T, Nguyễn Văn L. Bên trong phong bì có 01 đĩa CD-R Arita 700M lưu trữ 03 đoạn video ghi nhận lại sự việc xảy ra ngày 27/9/2024 tại khu phố P, thị trấn P, huyện X, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; phù hợp với Kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Xuyên Mộc; Bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thấy: Quan điểm luận tội của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc tại phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng số: 09/CT-VKS ngày 02/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuyên Mộc, kết luận bị cáo Nguyễn Hùng T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ nên chấp nhận.

Bị cáo Nguyễn Hùng T là công dân đã trưởng thành, có đầy đủ khả năng nhận thức và chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi của mình. Nhưng vì tham lam tư lợi, bị cáo đã coi thường pháp luật và các chuẩn mực đạo đức xã hội nên T đã dấn thân vào con đường phạm tội. Hành vi trộm cắp tài sản của bị hại được bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp với động cơ, mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác, để sử dụng cho bản thân là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của bị cáo không những xâm hại đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại mà nó còn gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân và ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải có bản án nghiêm khắc đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội đồng thời mới đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, giáo dục, phòng ngừa tội phạm nói chung.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo để quyết định cho bị cáo một mức hình phạt phù hợp.

Tình tiết tăng nặng: Không; tuy nhiên T có nhân thân không tốt vì đã hai lần bị Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ra quyết định đưa vào cơ giáo dục về hành vi gây rối, trộm cắp tài sản.

Tình tiết giảm nhẹ: T phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; vì vậy cần áp dụng các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho T.

Về hình phạt bổ sung: Do hoàn cảnh của T đang rất khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với T.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Phạm Thị Kim N đã nhận lại 03 tờ tiền đô la Mỹ và không có yêu cầu gì thêm.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị M đã nhận lại số tiền 1.900.000 đồng và không có yêu cầu gì thêm nên trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự chấm dứt.

Xử lý vật chứng:

- 01 tờ tiền mệnh giá 50 USD có số seri: MB01940253; 01 tờ tiền mệnh giá 20 USD số seri: PG25119771A; 01 tờ tiền mệnh giá 20 USD số seri: PL42000050B là của bà Ngân nên Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện Xuyên Mộc đã trả lại cho bà Ngân (đã xử lý xong).

- 01 tờ tiền VNĐ mệnh giá 500.000 đồng số seri: MZ18088683; 01 tờ tiền VNĐ mệnh giá 500.000 đồng số seri: MZ21563059; 01 tờ tiền VNĐ mệnh giá 500.000 đồng số seri YC16910760; 01 tờ tiền VNĐ mệnh giá 200.000 đồng số seri: LO21359507; 01 tờ tiền VNĐ mệnh giá 200.000 số seri: UB16793296 (tổng cộng là 1.900.000 đồng) là tiền bà Mỹ mua đô la của T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện Xuyên Mộc đã trả lại cho bà Mỹ (đã xử lý xong).

- 01 xe đạp màu đỏ đen là phương tiện Nguyễn Hùng T sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp, là phương tiện thực hiện tội phạm thì áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu sung quỹ nhà nước.

Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc đang quản lý vật chứng trên.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hùng T phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm và 200.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung quỹ nhà nước.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hùng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Nguyễn Hùng T 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 07/11/2024.

Tiếp tục tạm giam Nguyễn Hùng T để bảo đảm thi hành án.

Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 xe đạp màu đỏ đen.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Xuyên Mộc với Chi cục Thi hành án huyện Xuyên Mộc).

Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc đang quản lý vật chứng trên.

Án phí: Bị cáo Nguyễn Hùng T nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm và 200.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm sung quỹ nhà nước.

Hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14/01/2025), bị cáo, bà M có quyền kháng cáo. Đối với bà Ngân vắng mặt thì thời hạn này được tính từ ngày nhận được bản án do Tòa án tống đạt hoặc niêm yết có quyền yêu cầu Tòa án tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

Cỡ chữ