vanban.org

Bản án 05/2025/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Tuyên án 08/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T và Lèo Quang X phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về trách nhiệm hình sự: 1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/8/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T và Lèo Quang X phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/HS-ST
Ngày: 08-01-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Sinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Trương Ngọc Điệp;

- Bà Nguyễn Thị Thu Hương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành ph Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Bùi Long Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở T a án nh n d n thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 295/2024/TLST-HS 10 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 299/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn T, sinh năm 1987, CCCD: 038087050413, tại tỉnh Thanh Hoá; nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; giới tính: Nam; d n tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V và bà Nguyễn Thị K; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 23/11/2020, bị Công an phường Khánh Bình, thị xã (nay là thành phố) T n Uyên, tỉnh Bình Dương xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản, theo Quyết định số 155/QĐ-XPHC; ngày 15/8/2024 ra đầu thu và bị tạm giam cho đến nay, có mặt.

2. Lèo Quang X, sinh năm 1980, CCCD: 07408002124, tại tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: Số 6, khu phố 1, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; giới tính: Nam; d n tộc: Tày; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lèo Quang N (đã chết) và bà Lương Thị B (đã chết); bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 19/7/2012, bị Chủ tịch Uỷ ban nh n d n thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương ra Quyết định xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh với thời hạn là 24 tháng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, theo Quyết định số 224/QĐ-UBND; ngày 15/8/2024 ra đầu thu và bị tạm giam cho đến nay, có mặt.

Bị hại: Bà Phương Thị Thanh Th, sinh năm 1995; nơi cư trú: Ấp L, xã Ô, huyện C, tỉnh An Giang, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Huỳnh Kiều D, sinh năm 1998; nơi cư trú: Khu phố 1, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên t a, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T và Lèo Quang X có quan hệ là bạn bè, đều là đối tượng nghiện ma túy và không có nghề nghiệp, công việc ổn định. Khoảng 09 giờ 20 phút ngày 06/8/2024, X điều khiển xe mô tô kiểu dáng Yamaha Sirius gắn biển số 61B1-666.29 đi từ nhà tại khu phố 9, phường Phú Lợi, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đến khu vực công trình x y dựng tại phường An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương để gặp và rủ T đi nhặt phế liệu bán lấy tiền tiêu xài và mua má túy sử dụng, T đồng ý. Sau đó, X điều khiển xe mô tô biển số 61B1-666.29 chở T chạy đến khu vực phường Phú T n, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Đến khoảng 11 giờ 40 phút cùng ngày, khi cả hai lưu thông đến phía trước dãy trọ, địa chỉ tại số 424, đường Điện Biên Phủ, khu phố 1, phường Phú Tân, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương thì T nhìn thấy có 01 cục nóng máy lạnh hiệu Panasonic của chị Phương Thị Thanh Th và xung quanh không có người trông coi, nên T kêu Xdừng xe lại để lấy trộm cục nóng máy lạnh thì X đồng ý và điều khiển xe chạy đến gần cục nóng máy lạnh. Tiếp đó, T bước xuống xe và lấy cục nóng máy lạnh lên xe rồi cùng X điều khiển xe bỏ đi. Khi cả hai đi đến đường Mỹ Phước – T n Vạn thì thấy có một người đàn ông (hiện chưa xác định rõ nh n th n, lai lịch) điều khiển mô tô (không rõ nhãn hiệu, biển số) đang rao thu mua đồ cũ nên cả hai đã bán cục nóng vừa lấy trộm cho người này được số tiền 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng) rồi chia đều nhau tiêu xài. Đến ngày 15/8/2024, do ăn năn với hành vi phạm tội nên T và X đã đến Công an phường Phú T n để xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, đồng thời giao nộp cho Cơ quan Công an 01 xe mô tô kiểu dáng Yamaha Sirius, gắn biển số 61B1-666.29 (là phương tiện X chở T thực hiện hành vi phạm tội). Đối với chị Th, sau khi phát hiện bị mất trộm cục nóng máy lạnh vào ngày 06/8/2024 nhưng do bận việc nên chị Th không đến Cơ quan Công an trình báo ngay mà đến ngày 15/8/2024 chị Th mới đến Công an phường Phú T n trình báo vụ việc. Sau đó, vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một để thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 230/KL-TTHS ngày 21/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố Thủ Dầu Một, kết luận: 01 dàn nóng máy lạnh (cục nóng) nhãn hiệu Panasonic CU/CS-XU12HK-8 trị giá 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng). Đối với 01 cục nóng máy lạnh nêu trên, do không thu hồi được nên chị Th yêu cầu T và X liên đới bồi thường cho chị Th số tiền 7.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 xe mô tô kiểu dáng Yamaha Sirius, quá trình điều tra, xác minh xác định xe trên có số khung là RLCS5C640BY598020 và số máy là 5C64598032. Qua tra cứu số khung và số máy nêu trên không tìm thấy thông tin trên hệ thống dữ liệu đăng ký xe. Qua làm việc, Lèo Quang X khai mua lại xe trên của một người bạn không rõ nh n th n, lai lịch, sống lang thang tại khu vực phường An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương với giá 2.000.000 đồng (hai triệu đồng). Do đó, Viện kiểm sát nh n d n thành phố Thủ Dầu Một đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi Cục Thi hành án d n sự thành phố Thủ Dầu Một để đề nghị T a án tịch thu, sung vào ng n sách nhà nước.

- Đối với biển số 61B1 - 666.29, qua điều tra, xác minh xác định biển số 61B1 - 666.29 được cấp cho xe mô tô hiệu Honda Click 125I, màu trắng – đen do chị Huỳnh Kiều D sở hữu. Từ trước đến nay chị D chưa từng làm mất biển số và cũng chưa từng bán xe cho ai khác. Hiện nay, chị D vẫn đang sử dụng xe trên để làm phương tiện lưu thông hàng ngày. Do đó, Viện kiểm sát nh n d n thành phố Thủ Dầu Một đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi Cục Thi hành án d n sự thành phố Thủ Dầu Một để đề nghị T a án tịch thu, tiêu hủy.

Cáo trạng số 02/CT-VKSTDM ngày 09/12/2024 của Viện Kiểm sát nh n d n thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn T và Lèo Quang X về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên t a, đại diện Viện Kiểm sát nh n d n thành phố Thủ Dầu Một giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức hình phạt từ 10 tháng đến 12 tháng tù; bị cáo Lèo Quang X mức hình phạt từ 09 tháng đến 11 tháng tù.

- Về trách nhiệm d n sự và bồi thường thiệt hại: Bị hại yêu cầu các bị cáo liên đới bồi thường số tiền 7.000.000 đồng, các bị cáo đồng ý bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

- Về vật chứng của vụ án: Đề nghị tịch thu sung vào ng n sách nhà nước xe mô tô kiểu dáng Yamaha Sirius; tịch thu, tiêu hủy biển số 61B1 - 666.29.

Tại phiên t a các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình và không có ý kiến tranh luận; trong lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nh n d n thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người tham gia tố tụng cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên t a, các bị cáo Nguyễn Văn T và Lèo Quang X đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận: Khoảng 11 giờ 40 phút ngày 06/8/2024, tại khu vực phía trước dãy nhà trọ, địa chỉ tại số 424, đường Điện Biên Phủ, khu phố 1, phường Phú T n, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, các bị cáo Nguyễn Văn T và Lèo Quang X đã cùng nhau thực hiện hành vi lén lút lấy trộm 01 dàn nóng máy lạnh (cục nóng) nhãn hiệu Panasonic CU/CS-XU12ZHK-8, có trị giá 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng) của bị hại Phương Thị Thanh Th; nên hành vi mà các bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nh n d n thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo với tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những x m phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công d n được pháp luật bảo vệ mà c n g y mất trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng tham gia thực hiện hành vi phạm tội. Các bị cáo nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội với l i cố ý, thể hiện ý thức xem thường pháp luật và bất chấp hậu quả. Ngoài ra, các bị cáo còn có nh n th n xấu, bị cáo T từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản; bị cáo Xtừng bị xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Vì vậy, cần xử các bị cáo mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà từng bị cáo đã thực hiện; cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành công d n tốt, đồng thời nhằm răn đe và ph ng ngừa chung trong xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi phạm tội các bị cáo ra đầu thú; là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; nh n th n, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm d n sự: Quá trình giải quyết vụ án, bị hại yêu cầu các bị cáo liên đới bồi thường số tiền 7.000.000 đồng, các bị cáo đồng ý bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về xử lý vật chứng của vụ án: Tịch thu sung vào ng n sách nhà nước xe mô tô kiểu dáng Yamaha Sirius (xe có số khung là RLCS5C640BY598020; số máy là 5C64598032) là phương tiện phạm tội; tịch thu, tiêu hủy biển số 61B1 - 666.29.

Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 136, 260 và 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T và Lèo Quang X phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về trách nhiệm hình sự:

2.1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/8/2024.

2.2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lèo Quang X 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/8/2024.

3. Về trách nhiệm d n sự: Căn cứ Điều 584, 585 và Điều 590 Bộ luật D n sự; buộc các bị cáo Nguyễn Văn T và Lèo Quang X phải liên đới bồi thường cho bị hại Phương Thị Thanh Thảo số tiền 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án c n phải chịu khoản tiền lãi của số tiền c n phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật d n sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án d n sự thì người được thi hành án d n sự, người phải thi hành án d n sự có quyền T thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án d n sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án d n sự.

4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự:

- Tịch thu sung vào ng n sách Nhà nước 01 (một) xe mô tô đã qua sử dụng kiêu dáng Yamaha Sirius, xe đã cũ, bị trầy nhiều. Xe không có bửng, đèn sau và kính chiêu hậu, yên xe bị rách, số khung RLCS5C640BY598020, số máy 5C64598032 (không kiểm tra chi tiết, tình trạng hoạt động);

- Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) biển số xe 61B1 - 666.29;

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 052.25 ngày 10/12/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một và Công an thành phố Thủ Dầu Một).

5. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T a án; buộc các bị cáo Nguyễn Văn T và Lèo Quang X m i bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và liên đới nộp 350.000 đồng án phí d n sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên t a được quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ