- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Bá T phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2025/HS-ST Ngày: 07-01-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hồng Công
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Đặng Ngọc Hương
Ông Lê Xuân Hoàng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố C - tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố C - tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên toà: Ông Lê Quang Khải - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố C xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 180/2024/HSST ngày 20 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Bá T, sinh ngày 06 tháng 7 năm 1984, tại Khánh Hoà. Nơi cư trú: Thôn RS, xã CPĐ, thành phố C, tỉnh Khánh Hoà. Nghề nghiệp: Không. Trình độ văn hóa: 9/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Nguyễn Bá N (chết) và bà Phạm Thị M, sinh năm 1957. Vợ, con: Chưa. Tiền án: Không. Tiền sự: Ngày 18/3/2023, bị Công an xã CPĐ, thành phố C xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; ngày 10/6/2024, bị Công an phường Cam Linh, thành phố C xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; ngày 12/6/2024, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã CPĐ, thành phố C ban hành Quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn 01 năm kể từ ngày 12/6/2024. Nhân thân: Ngày 27/10/2016, bị Công an xã CPĐ, thành phố C xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản; ngày 22/11/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố C xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 15/10/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố C xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tổng hợp hình phạt chung của 02 bản án là 02 năm 02 tháng 23 ngày, chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 08/11/2021. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/11/2024 đến ngày 20/11/2024; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/11/2024. (Có mặt).
- Bị hại: Nguyễn Quốc U, sinh ngày 11 tháng 9 năm 2004. Nơi cư trú: Tổ dân phố KC, phường BN, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt)
- Người làm chứng:
+ Nguyễn Ngọc S, sinh năm: 1976. Nơi cư trú: Tổ dân phố KC, phường BN, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt)
+ Phạm Thị M, sinh năm: 1957. Nơi cư trú: Thôn RS, xã CPĐ, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 08 giờ ngày 13/11/2024, Nguyễn Bá T đi đến khu vực cầu cá thuộc tổ dân phố LP, phường CL thành phố C, tỉnh Khánh Hòa để tìm tài sản trộm cắp. Tại đây, T thấy xe mô tô 79C1-077.35 của anh Nguyễn Quốc U đậu ở khu vực cầu cá, có gắn chìa khóa trên xe, không có người trông coi nên lấy trộm xe rồi điều khiển xe về nhà cất giấu.
Tại Kết luận định giá tài sản số 152/KL-HĐĐGTS ngày 15/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C kết luận: Xe mô tô 79C1-077.35 trị giá 4.700.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 03/CT-VKSCR-HS ngày 19/12/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố C đã truy tố bị cáo T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo T về điều khoản như trên của bản cáo trạng.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo ăn năn hối hận vì đã gây ra hành vi vi phạm pháp luật nên đề nghị Tòa án giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại và người làm chứng vắng mặt. Tuy nhiên, những người tham gia tố tụng này đã có lời khai trong hồ sơ, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt họ.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã tuân thủ và thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong hồ sơ và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Bá T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Khoảng 08 giờ ngày 13/11/2024, tại khu vực cầu cá thuộc tổ dân phố LP, phường CL, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa; Nguyễn Bá T đã có hành vi lợi dụng sự sơ hở của người khác lén lút trộm cắp 01 xe mô tô 79C1-077.35 của anh Nguyễn Quốc U trị giá 4.700.000 đồng.
Hành vi của bị cáo T có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Do đó, cáo trạng số 03/CT-VKSCR-HS ngày 19/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố C truy tố bị cáo T về điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền quản lý tài sản của người khác là một trong những khách thể quan trọng được Luật hình sự bảo vệ, gây T lý hoài nghi lẫn nhau trong cộng đồng dân cư, gây mất an ninh trật tự an toàn xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị Tòa án xử phạt về hành vi “Trộm cắp tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà tiếp tục phạm tội nên cần phải xử lý nghiêm khắc để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Tuy nhiên, trong hồ sơ và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Vì vậy, cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà yên T cải tạo, trở thành công dân tốt.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Quốc U đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bá T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 và khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Bá T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ vào thời gian tạm giữ từ ngày 14 tháng 11 năm 2024 đến 20 tháng 11 năm 2024.
2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Quốc U đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Bá T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - Sở tư pháp tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Khánh Hòa - VKSND t.p C; - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an t.p C; - Cơ quan thi hành án hình sự t.p C; - CCTHADS t.p C; - Bị cáo; bị hại; - Lưu án văn, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hồng Công |