- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo C - ĐIều 134 BLHS - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! THÀNH!PHỐ!NGÃ!BẢY! TỈNH!HẬU!GIANG! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2025/HS-ST Ngày: 25-4-2025. |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!NGÃ!BẢY,!TỈNH!HẬU!GIANG!
!
!
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Lữ Văn Công.
2/ Ông Nguyễn Văn Hải. !
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Như Ý - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Ngã Bảy.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ngã Bảy tham gia phiên tòa: Ông Võ Hoài Vinh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ngã Bảy xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 05/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2025 đối với:
Bị cáo:!Phạm!Văn!C; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam
Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1959; Nơi sinh: thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
Nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: Số A, đường L, khu vực A, phường B, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang.
Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ học vấn: 09/12.
Con ông: Phạm Văn C và bà Nguyễn Thị N.
Có vợ: Nguyễn Thị L (chết); Sống chung như vợ chồng với bà Cao Thị Tuyết N.
Con: 07 người con, lớn nhất sinh năm 1983 nhỏ nhất sinh năm 2019.
Tiền án, tiền sự: Không.
1
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khởi nơi cư trú từ ngày 13/11/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Cao Thị Tuyết N; sinh năm: 1975 (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
Người đại diện theo uỷ quyền bị hại Cao Thị Tuyết N: Bà Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1970.(Có mặt)
Trú tại: Ấp A, xã Đ, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang.
* Người làm chứng: Tô Kim Cúc
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được thể hiện như sau:
Vào khoảng năm 2017, bị cáo Phạm Văn C, sinh ngày: 01/01/1959, ĐKTT: Khu vực A, phường B, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang, quen biết và sống chung như vợ chồng với bà Cao Thị Tuyết N, sinh năm: 1975, ĐKTT: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng., cả hai có 01 người con chung là Cao Công T (6 tuổi). Bị cáo và bà N sinh sống chung nhà của bị cáo tại địa chỉ số Khu vực A, phường B, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang . Đến khoảng đầu tháng 05/2023, bị cáo và bà N xảy ra mâu thuẫn, xuất phát từ việc ghen tuông tình ái, bà N thường xuyên đi sớm về muộn, bị cáo nghi ngờ bà N quen biết và có tình cảm với người khác nên có cự cải qua lại nhưng không xảy ra đánh nhau.
Đến khoảng 17 giờ ngày 11/05/2024, bị cáo chở bà N đến đường Mang Cá, khu vực II, phường Hiệp Thành, thành phố Ngã Bảy để bà N uốn tốc, tại đây bà N nói với bị cáo khi nào làm xong sẽ tự đi về nên bị cáo về trước. Tuy nhiên, sau khi biết được sự việc bà N không uốn tóc như đã nói nên bị cáo nhiều lần trực tiếp điện thoại cũng như nhờ người thân điện thoại nhưng bà N không nghe máy. Đến khoảng 21 giờ ngày 11/5/2024 bị cáo nhờ người quen ở gần nhà xem giúp cửa nhà số Khu vực A, phường B, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giangy khóa bên trong hay bên ngoài, sau khi được thông báo cửa khóa ngoài bị cáo nghi ngờ bà N đã đi chơi với người tình nên chạy xe đi tìm kiếm tại các quán cà phê trên địa bàn phường Ngã Bảy nhưng không gặp cho đến khuya nhưng bà N vẫn chưa về nhà. Cho rằng bà N đi chơi với người tình nên không nghe điện thoại, bị cáo bực tức ngồi phía trước nhà anh Liệt (đã đóng cửa) đổi diện nhà của bị cáo để canh bà N về nhà. Đến khoảng 22 giờ 30 phút,
2
bị cáo thấy anh Nguyễn Văn M, sinh năm: 1996, ĐKTT: Ấp X, xã H, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiền Giang điều khiển xe mô tô biển số 95E1-808.14 chở bà N về, trong lúc bà N đang đi vào mở cửa thì bị cáo đã nhặt trong sọt rác 01 (Một) đoạn ống nhôm màu trắng dài khoảng 40cm, bị cáo cầm đoạn ống nhôm bằng tay phải dánh trúng nhiều cái vào các phần chân, tay, mông của bà N, trong lúc bị đánh bà N lùi về sau nên bị té ngã, lúc này bị cáo không đánh nữa, anh M hoảng sợ bỏ chạy thì bị cáo kêu anh M quay lại lấy xe về, sau khi bị đánh bà N ngồi trên ghế đá còn bị cáo bỏ đi về nhà ở phường H, thành phố Ngã Bảy, đoạn ống nhôm là hung khí bị cáo đã quăng bỏ ngoài lộ và không nhớ rõ vị trí.
Tại Cơ quan điều tra bị cáo Phạm Văn C đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên (BL 12-13; 56-59).
Tại Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 247/KLTTCT-TTPY ngày 07/11/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Hậu Giang kết luận: Vết sẹo phần mềm bàn tay phải, cẳng chân trái; Gãy xương đốt xa ngón III bàn tay phải. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của bà Cao Thị Tuyết N tại thời điểm giám định là 5% (Năm phần trăm). Các vết sẹo do vật tày gây nên.
Việc tạm giữ, xử lý vật chứng:
Vật chứng trong vụ án: Đối với hung khí gây án là đoạn ống nhôm màu trắng dài khoảng 40 cm do bị cáo đã vứt bỏ và không nhớ được vị trí nên không thu hồi được (BL 53).
Trách nhiệm dân sự: Bị cáo Phạm Văn C và bị hại Cao Thị Tuyết N có tự thỏa thuận tại nhà thống nhất với yêu cầu bồi thường thiệt hại của bà N là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), bị cáo đã bồi thường cho bà N 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) tại nhà của bị cáo (Nhà số 5) nhưng bị cáo không yêu cầu bà N vết biên nhận nhưng có sự chứng kiến của bà Tô Kim Cúc là người làm thuê cho bà N. Sau khi nhận tiền bà N không thừa nhận có nhận tiền bồi thường. Đến ngày 22/10/2024, bà N có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đồng thời yêu cầu bôi thường số tiền điều trị thương tích là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) (BL 10-11). Ngày 31/12/2024, bị cáo thống nhất bồi thường cho bà N 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) nhưng bị cáo khai nhận đã đưa trước 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) nên bị cáo đã nộp thêm 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) vào Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang để khắc phục cho bị hại N (BL: 66; 81).
3
Theo cáo trạng số 07/CT-VKS-TPNB, ngày 13/022025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ngã Bảy đã truy tố bị cáo về “Tội cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo C.
Tại!phiên!tòa!!
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không có tranh luận gì thêm. Lời nói sau cùng của bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Đồng thời bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Bị hại yêu cầu: Tại phiên toà bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền là 119.000.000đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 134, Điều 38, Điều 50, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phạm Văn C từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về “Tội cố ý gây thương tích”. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 25/4/2025.
Về vật chứng: Đối với hung khí gây án là đoạn ống nhôm màu trắng dài khoảng 40 cm do bị cáo đã vứt bỏ và không nhớ được vị trí nên không thu hồi được.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà bị cáo tự nguyện khắc phục tiền bồi thường cho bị hại là 50.000.000đồng (Năm mươi triệu đồng) theo như thoả thuận tại cơ quan điều tra, bị cáo đã nộp trước 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang, bị cáo có trách nhiệm bồi thường thêm cho bị hại N số tiền là 30.000.000đồng (Ba mươi triệu đồng).
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Ngã Bảy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ngã Bảy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về
4
hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng. Lời khai nhận của bị cáo là phù hợp với các chứng cứ trong hồ sơ vụ án: Bị cáo Phạm Văn C chung sống như vợ chồng với bị hại là bà Cao Thị Tuyết N, từ khoảng năm 2017 cho đến khoảng đầu tháng 5/2023 thì xảy ra mâu thuẫn bắt nguồn từ việc ghen tuông bà N thường xuyên đi sớm về muộn, bị cáo nghi ngờ bà N quen biết và có tình cảm với người đàn ông khác nên có cự cải qua lại nhưng không xảy ra xô xát đánh nhau. Đến khoảng 22 giờ 30 phút ngày 11/05/2024, khi thấy sự việc bà N nhờ ông Nguyễn Văn M chở về nhà tại số 05, đường Lê Lợi, khu vực I, phường Ngã Bảy, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang. Do tức giận vì ghen tuông khi bà N đang mở cửa vào nhà thì bị cáo Phạm Văn C dùng 01 đoạn ống nhôm đánh nhiều cái vào người bà N gây thương tích gây nên: Vết sẹo phần mềm bàn tay phải, cắng chân trái; Gãy xương đốt xa ngón III bàn tay phải với tỷ lệ tổn thương cơ thể bà N là 5% (Năm phần trăm).
Hành vi của bị cáo C vi phạm vào điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Do đó, cáo trạng số 07/CT-VKS-TPNB, ngày 13/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ngã Bảy đã truy tố bị cáo là có căn cứ đúng pháp luật.
[4]. Xét thấy, hành vi của bị cáo Phạm Văn C dùng một đoạn ống nhôm dài khoảng 40cm là hung khí nguy hiểm đánh bị hại N gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 5% đã đủ yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, chỉ vì ghen tuông mà bị cáo đã dùng hung khí ra tay đánh bị hại, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với lỗi cố ý đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi và hậu quả do hành vi phạm tội đã gây ra.
[4.1]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4.2]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có đủ độ tuổi và năng lực chịu trách nhiệm hình sự;
5
Bị cáo C có nhân thân tốt. Ngoài lần phạm tội này bị cáo không có tiền án, tiền sự và không bị xử phạt hành chính về hành vi nào khác. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình. Bị cáo Phạm Văn C phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đồng thời bị cáo đã tự nguyện nộp tiền bồi thường 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ngã Bảy đê bồi thường thiệt hại cho bị hại Cao Thị Tuyết N. Bị cáo có cha ruột là ông Phạm Văn Cầu đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và được Chủ tịch nước tặng huân chương kháng chiến hạnh Nhì và đã khắc phục hậu quả cho bị hại nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội và áp dụng hình phạt khác như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đủ răn đe, giáo dục cho bị cáo. Do đó, theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5]. Về vật chứng: Đối với hung khí gây án là đoạn ống nhôm màu trắng dài khoảng 40 cm do bị cáo đã vứt bỏ và không nhớ được vị trí nên không thu hồi được.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền là 119.000.000đồng đối với yêu cầu này Hội đồng xét xử xét thấy không có cơ sở nên không chấp nhận.
Tại phiên toà bị cáo tự nguyện khắc phục tiền bồi thường cho bị hại là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) theo như thoả thuận giữa bị cáo và bị hại tại cơ quan điều tra, bị cáo đã nộp khắc phục hậu quả trước 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang, bị cáo tiếp tục bồi thường thêm cho bị hại N số tiền là 30.000.000đồng (Ba mươi triệu đồng).
[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT!ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn C phạm “Tội cố ý gây thường tích”.
- Áp dụng: Điểm a, khoản 1 Điều 134, Điều 32, Điều 48, Điều 50, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.
- Xử phạt bị cáo Phạm!Văn!C 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng, tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Phạm Văn C cho Ủy ban nhân dân phường Ngã Bảy, thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang giám sát bị cáo trong thời gian thử thách.
6
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại tổng số tiền là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), bị cáo đã nộp khắc phục hậu quả trước 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang, bị cáo tiếp tục nộp bồi thường thêm cho bị hại N số tiền là 30.000.000đồng (Ba mươi triệu đồng).
2. Về án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584; Điều 585 Bộ luật dân sự.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Phạm Văn C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang, do bị cáo C là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
3. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.! *Nơi nhận:!
| - Sở tư pháp tỉnh Hậu Giang; - TAND tỉnh Hậu Giang; - VKSND TP. Ngã Bảy; - Công an tỉnh Hậu Giang; - Chi cục THADS TP. Ngã Bảy;! -!Bi cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HS, VT.! ! 7 | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM! THẨM!PHÁN!–!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA! ! ! ! ! ! ! ! Trần!Thị!Nhung! ! ! ! ! ! ! ! |