- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đối với Trương Công L + ĐP - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 197 Bộ luật hình sự…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Trương Công L và Trương Công T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - TH Bản án số: 05/2025/HS-ST Ngày: 23- 7 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - TH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Xuân Thành
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Đức Hoàn
2. Ông Bùi Trung Thành
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Quý Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 10 - TH
- Đại diện VKSND Khu vực 10 - TH tham gia phiên toà: Ông Bùi Văn Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 10 - TH xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Trương Công L; Tên gọi khác; Không - Sinh ngày 27/6/1999 tại tỉnh TH; Nơi thường trú và nơi ở hiện nay: Thôn PL, xã CL (Nay là Thôn PL, xã CT), tỉnh TH; Căn cước công dân số: 038099000838; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; giới tính Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông: Trương Công L và bà: Bùi Thị H; Vợ, con chưa có; Tiền án; tiền sự Không.
Nhân thân: Ngày 25/8/2021 bị Công an xã CN, huyện CT xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Ngày 30/12/2021 bị TAND huyện CT xử phạt 12 tháng tù tại Bản án số: 59/2021 về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 21/9/2022 chấp hành xong hình phạt tù.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/12/2024 cho đến nay. Có mặt
2. Trương Công T; Tên gọi khác; Không - Sinh ngày 02/02/1996 tại tỉnh TH; Nơi thường trú và nơi ở hiện nay: Thôn LT, xã CL (nay là thôn LT xã CT), tỉnh TH; Căn cước công dân số: 038096017142; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; giới tính Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Con ông: Trương Công S (Đã chết) và bà: Phạm Thị Y có vợ, con chưa có; Tiền án; tiền sự Không.
Nhân thân: Ngày 24/11/2020 bị TAND huyện HT xử phạt 15 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, ngày 27/10/2021 chấp hành xong hình phạt tù
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/12/2024 cho đến nay. Có mặt
* Những người làm chứng:
1. Phạm Thúc H, sinh năm 1993 (vắng mặt)
Địa chỉ: KPCT, xã NL, tỉnh TH.
2. Trương Thị HT, sinh năm 2005 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn PL, xã CT, tỉnh TH)
3. Bùi Văn M, sinh năm 1983 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn PL, xã CT, tỉnh TH)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 02/12/2024 Trương Công L, trú tại Thôn PL, xã CT, tỉnh TH nhắn tin rủ Trương Công T ở Thôn LT, xã CT, tỉnh TH đến quán ăn sáng của nhà L uống rượu thì T đồng ý và nói là không có xe, nên L mượn chiếc xe mô tô của anh Bùi Văn M, ở cùng thôn đang ngồi ăn sáng đến nhà đón T. Khi đến nơi thì T đã đứng chờ sẵn ngoài cổng, T nói “Không đi ăn nữa, có biết chỗ bán ma tuý không, giờ mua về chơi luôn”. L đồng ý, đưa xe cho T điều khiển và chỉ đường đến xã NL mua ma tuý. Trên đường đi, T bảo L lấy từ túi quần sau của T số tiền 600.000 đồng để trả tiền mua ma tuý. Cả hai đi đến đầu ngõ gần chợ LN thuộc xã NL thì dừng lại, T chờ ở xe, còn L đi bộ vào nhà Phạm Thúc H, ở KPCT, xã NL mua ma tuý loại Heroine với H số tiền là 500.000 đồng, xong Ly quay lại chỗ T đang chờ. T điều khiển xe chở L theo hướng đi CT, trên đường đi về T và L mua 02 bơm kim tiêm, 02 lọ nước cất đi đến vườn cây keo thuộc thôn HL, xã QT (nay là xã TL), tỉnh TH, dừng xe ven đường và đi bộ vào trong vườn keo sử dụng ma tuý.
Tại đây, L bóc một túi bơm kim tiêm, tháo đầu bơm và bỏ ma tuý vào thân bơm tiêm rồi bẻ một lọ nước cất để pha thành dung dịch, T bẻ lọ nước cất còn lại đưa cho L để pha loãng dung dịch ma túy, trong lúc đó, T bóc vỏ bơm tiêm đưa cho L để chia ma tuý. L cho hai đầu kim tiêm tiếp xúc rồi chia ma tuý thành hai phần bằng nhau và đưa cho T. T và L sử dụng ma tuý bằng hình thức tiêm chích vào tay của mình, xong vứt lại bơm kim tiêm tại đó rồi chở nhau đi. Đến ngày 03/12/2024 Trương Công L và Trương Công T đến hiện trường trước đó đã sử dụng ma tuý nhặt lại bơm kim tiêm rồi đến Cơ quan điều tra Công an xã tự thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình.
- Tại Bản Kết luận giám định số: 4672/KL-KTHS ngày 09/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TH. Kết luận: “Tìm thấy ma tuý heroine bám dính bên trong hai bơm kim tiêm (xi lanh) loại 03ml niêm phong gửi giám định”.
- Tại Bản Kết luận giám định số: 9429/KL-KTHS ngày 13/12/2024 của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an. Kết luận: “Tìm thấy sản phẩm chuyển hoá của Heroine trong mẫu nước tiểu của Trương Công L, Trương Công T.”
- Tại Bản Kết luận giám định số: 1026/KL-KTHS ngày 28/02/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TH; Kết luận:
+ Không tìm thấy dấu vết máu người trong bơm kim tiêm số 1 gửi giám định.
+ Trong bơm kim tiêm số 2 gửi giám định có máu của một người nam giới và không trùng khớp với ADN của Trương Công T và Trương Công L.
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
01 (một) phong bì loại chuyên dụng, mã số PS3A 108212, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký, ghi rõ họ tên của Nguyễn Thị D, Đỗ Đức T và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TH. (Bên trong là các bơm kim tiêm hoàn mẫu sau giám định) chuyển đến Kho vật chứng của phòng thi hành án dân sự huyện NL để xét xử và thi hành án.
Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36L1-9239, quá trình điều tra xác định thuộc quyền sở hữu của anh Bùi Văn M, sinh năm 1983, trú tại Thôn PL, xã Cẩm L, huyện CT, anh M không biết L và T sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra không thu giữ xử lý.
* Về trách nhiệm dân sự: không.
Bản cáo trạng số: 31/CT-VKSNL ngày 19/5/2025 của VKSND huyện NL (Nay là VKSND Khu vực 10 - TH) đã truy tố các bị cáo Trương Công L và Trương Công T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa Đại diện viện kiểm sát đề nghị hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật hình sự cho cả hai bị cáo.
- Mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo:
Trương Công L từ 27 (hai mươi bảy) đến 30 (ba mươi) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 03/12/2025.
Trương Công T từ 24 (hai mươi tư) đến 27 (hai mươi bảy) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 03/12/2025.
- Về xử lý vật chứng:
Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì loại chuyên dụng, mã số PS3A 108212, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký và các hình dấu (Bên trong là các bơm kim tiêm hoàn mẫu sau giám định).
- Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra, tại phiên tòa các bị cáo đều khai rõ do không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản cá nhân có giá trị nên đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo nhận tội thống nhất với quan điểm luận tội không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, trong lời nói sau cùng các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, bản kết luận giám định, lời khai của các bị cáo có trong hồ sơ cũng như tại phiên tòa đã khai nhận rõ: Sáng ngày 02/12/2024 Trương Công T và Trương Công L đã thực hiện hành vi rủ nhau đi mua ma tuý, (loại Heroine) rồi cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy, tại khu vực đồi keo thuộc thôn HL, xã QT, (nay là xã TL), tỉnh TH, đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự. Như vậy viện kiểm sát truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng bởi lẽ. Trong những năm qua tình hình về tội phạm ma túy dưới mọi hình thức trong cả nước nói chung và trên địa bàn nói riêng ngày càng tăng. Các vụ án ma túy diễn biến ngày càng phức tạp, tình trạng sử dụng ma túy diễn ra ngày càng nhiều. Có thể nói ma túy là một tệ nạn đang nhức nhối nhất hiện nay mà Đảng, nhà nước và nhân dân ta đã và đang quyết tâm loại trừ ra khỏi đời sống xã hội, vì ma tuý có tác hại nghiêm trọng đến đời sống, sức khoẻ, hạnh phúc của mọi người, mọi nhà, làm suy thoái về giống nòi, suy đồi về đạo đức, lối sống, ma tuý làm lây lan căn bệnh thế kỷ HIV, do ma tuý mà một loạt các tội phạm khác gia tăng. Các bị cáo đủ nhận thức để hiểu được những tác hại do ma túy gây ra và các hành vi về tàng trữ, mua bán, sử dụng, lôi kéo người khác ... đều vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về ma túy, gây nên dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến tình hình trật tự an ninh, an toàn xã hội. Vì vậy cần phải lên cho các các bị cáo một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của mình.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:
[4.1] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Các bị cáo phạm tội không có có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Cả hai bị cáo Trương Công L và Trương Công T đều có các tình tiết giảm nhẹ đó là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” sau khi phạm tội các bị cáo đã ra tự thú được quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 BLHS.
[4.2] Về nhân thân:
- Đối với bị cáo Trương Công L: Ngày 25/8/2021 bị Công an xã CN, huyện CT xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Ngày 30/12/2021 bị TAND huyện CT xử phạt 12 tháng tù theo Bản án số: 59/2021 về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 21/9/2022 chấp hành xong hình phạt tù.
- Đối với bị cáo Trương Công T: Ngày 24/11/2020 bị TAND huyện HT xử phạt 15 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, ngày 27/10/2021 chấp hành xong hình phạt tù.
[5] Xét về vai trò thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo.
Hành vi phạm tội của các bị cáo không phải là trường hợp phạm tội có tổ chức mà chỉ là đồng phạm giản đơn. Xét về vai trò thì Trương Công L là người chỉ dẫn địa điểm mua ma tuý, trực tiếp pha chế và phân chia dung dịch ma tuý, do đó bị cáo L giữ vai trò thứ nhất, phải chịu hình phạt cao hơn bị cáo Trương Công T. Đối với bị cáo Trương Công T là người cung cấp toàn bộ số tiền để mua ma tuý, mua dụng cụ sử dụng (bơm kim tiêm, nước cất), chi phí xăng xe và giúp sức cho Trương Công L trong việc pha chế, phân chia ma tuý nên giữ vai trò thứ hai của vụ án, do đó Trương Công T chịu hình phạt thấp hơn Trương Công L là phù hợp.
[ 6] Về hình phạt:
Từ những phân tích, đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử, xét thấy: Các bị cáo là người có nhân thân xấu không chịu tu dưỡng rèn luyện, không có ý thức cải tạo thành người công dân tốt, tỏ thái độ coi thường pháp luật. Do đó hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù nghiêm minh, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, mới có tác dụng giáo dục, đồng thời đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa tội phạm; Tuy nhiên khi xem xét các tình tiết giảm nhẹ, nên giảm cho các bị cáo một phần hình phạt để các bị cáo thấy được tính khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo sớm trở về hòa nhập với cộng đồng xã hội.
[7] Các tình tiết khác liên quan đến vụ án:
[7.1] Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo Trương Công L khai nhận số ma tuý mà L và T sử dụng ngày 02/12/2024 là mua tại nhà của Phạm Thúc H, với giá 500.000 đồng. Ngày 25/12/2024 H đến Cơ quan CSĐT Công an huyện CT đầu thú về hành vi “Mua bán trái phép chất ma tuý” cho Trương Công L ngày 02/12/2024 và Bùi Anh V, sinh năm 2001, trú tại thôn TL, xã CL, huyện CT ngày 29/10/2024, Cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can Phạm Thúc H để điều tra xử lý bằng vụ án khác.
[7.2] Về nguồn gốc và nội dung Kết luận giám định ADN trong hai bơm kim tiêm mà các bị cáo giao nộp: Theo lời khai của L và T, trước khi đến Cơ quan Công an tự thú, bị cáo Trương Công L và Trương Công T đã đến hiện trường nhặt lại hai bơm kim tiêm để giao nộp, tuy nhiên, khi đến nơi thì chỉ có bị cáo L đi vào nhặt, còn bị cáo T đứng ngoài đường chờ. Tại thời điểm bị cáo L quay lại hiện trường thì thấy có nhiều vỏ bơm kim tiêm, bị cáo chỉ áng chừng vị trí mà L và T ngồi sử dụng ma tuý để làm căn cứ xác định bơm kim tiêm. Bị cáo Trương Công L không khẳng định hai bơm kim tiêm này có phải là bơm kim tiêm mà L, T đã sử dụng hay không và bị cáo cũng không biết từ thời điểm các bị cáo sử dụng ma tuý đến khi nhặt còn có ai khác sử dụng các bơm kim tiêm này không. Do đó, Kết quả giám định ADN trong hai bơm kim tiêm của các bị cáo giao nộp không ảnh hưởng đến kết quả điều tra của vụ án.
[8] Về xử lý vật chứng:
01 (một) phong bì loại chuyên dụng, mã số PS3A 108212, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký và các hình dấu (Bên trong là các bơm kim tiêm hoàn mẫu sau giám định) hiện không còn giá trị sử dụng nên HĐXX căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy.
[9] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản cá nhân có giá trị nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
[10] Về án phí: Các bị cáo Trương Công L và Trương Công T phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ; Khoản 1 Điều 255, điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với cả hai bị cáo Trương Công L và Trương Công T.
1. Tuyên bố: Trương Công L và Trương Công T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Trương Công L 30 (ba mươi) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/12/2024.
Xử phạt: Trương Công T 27 ( hai mươi bảy) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/12/2024.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì loại chuyên dụng, mã số PS3A 108212, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký và các hình dấu (Bên trong là các bơm kim tiêm hoàn mẫu sau giám định).
Hiện vật chứng, tài sản đang được nhập kho Chi cục thi hành án dân sự huyện NL (Nay là phòng thi hành án dân sự khu vực 10 - TH) theo phiếu nhập kho số: NK 2025/031 ngày 23/5/2025.
3. Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 136; 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo Trương Công L và Trương Công T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo. Tuyên bố các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các bị cáo; - VKSND Khu vực 10 - TH; - VKSND tỉnh TH; - Trại tạm giam Công an tỉnh TH; ( PC 11); - Cơ quan THAHS Công an tỉnh TH (PC 10); - Cơ quan CSĐTCA tỉnh TH ( PC 04); - TAND tỉnh TH; - Phân trại tạm giam khu vực CT, tỉnh TH; - Sở tư pháp tỉnh TH; - THADS tỉnh TH; - Phòng THADS Khu vực 10 - TH; - Lưu: Hồ sơ. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Phạm Đức Hoàn Bùi Trung Thành | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Xuân Thành HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Xuân Thành |