vanban.org

Bản án 05/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 26/08/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Võ Tấn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

X phạt: Bị cáo Võ Tấn Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Th i hạn chấp hành tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2017, s a đổi bổ sung, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Tấn Đạt - Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ su…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Võ Tấn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU
VỰC 4 – QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/HS-ST
Ngày 26 - 8 - 2025

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Thanh Hòa.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đinh Thị Thu Hằng và ông Nguyễn Hồng Quang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Hoàng Hồng Hạnh – Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 4 – Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thanh Tứ - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2025, tại Hội trư ng t Tòa án nhân dân Khu vực 4

- Quảng Ngãi t sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 42/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Quảng Ngãi) theo quyết định đưa vụ án ra t số: 04/2025/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 7 năm 2025, quyết định hoãn phiên tòa số: 10/HSST-QĐ ngày 07 tháng 8 năm 2025, đối với:

- Bị cáo Võ Tấn Đ, tên gọi khác: Đ1, “Có mặt”.

Sinh ngày 07 tháng 03 năm 1999 tại Quảng Ngãi.

Nơi cư trú: Thôn P, ã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi (Nay là Thôn P, ã T, tỉnh Quảng Ngãi).

Số CMND/Thẻ CCCD/Hộ chiếu: 051099001811, cấp ngày 26 tháng 09 năm 2022, Nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự ã hội.

Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn H, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1971; bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Bị cáo Đ đang bị khởi tố theo quyết định khởi tố bị can số 28/QĐ-ĐTTH ngày 05 tháng 2 năm 2025 của Cơ quan Cảnh sát diều tra công an huyện T ( Nay là công an tỉnh Q) về hành vi cố ý gây thương tích.

Bị cáo Võ Tấn Đ bị áp dụng biện pháp biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 14/10/2024, đến ngày bị áp dụng biện pháp tạm giam trong một vụ án khác.

Ngư i bào chữa cho bị cáo Võ Tấn Đ là: Ông Nguyễn Xuân V – Thuộc Văn phòng L và cộng sự thuộc Đoàn luật sư tỉnh Q.

- Bị hại: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1984 “Có đơn in t vắng mặt”.

Địa chỉ: Thôn P, ã T, tỉnh Quảng Ngãi.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Ông Phạm Tấn T1, sinh năm 1999 “vắng mặt”.

Địa chỉ: Thôn Đ, ã T, tỉnh Quảng Ngãi.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào chiều ngày 15/09/2024, giữa bị cáo Võ Tấn Đ và ông Nguyễn S (hàng óm của bị cáo) có ảy ra cải vã, ông Nguyễn Văn T sinh năm 1984 (là ngư i cùng thôn) đi ngang qua thấy sự việc nên đứng lại hỏi chuyện và có l i qua tiếng lại với bị cáo, sau đó ai về nhà nấy. Đến tối cùng ngày, bị cáo cùng một ngư i bạn đến nhà của ông T nói chuyện thì hai bên tiếp tục ảy ra cải vã, được tổ an ninh trật tự thôn đến hòa giải. Đến sáng ngày 16/9/2024, ông T đi ngang nhà của cha mẹ bị cáo, vừa đi vừa nói lớn “Nếu tối qua bọn mày mà xô cửa vô nhà tao thì tao dứt hết cái đầu bọn bây”, lúc này bị cáo ở trong nhà nghe được. Sau đó, bị cáo gọi điện thoại và rủ Phan Tấn T2 lên nhà của ông Nguyễn Văn Đ2 (ở ã Đ, tỉnh Quảng Ngãi) để nhậu. Trong quá trình nhậu tại nhà ông Đ2, bị cáo có qua nhà bà ngoại (sát cạnh nhà Đ2) lấy 01 (một) con dao dài 46cm (bốn mươi sáu centimet) cất giấu vào ngư i (lận con dao bên hông trái) rồi quay trở lại nhà ông Đ2 tiếp tục nhậu. Sau khi nhậu ong, bị cáo nói với T2 chở về. Đến khoảng 12 gi 15 phút ngày 16/9/2024, ông T2 chở bị cáo về tới nhà cha mẹ nhưng bị cáo không vô nhà mà bảo T2 chở bị cáo qua nhà ông Nguyễn Văn T. Đến trước ngõ nhà ông T, bị cáo bảo ông T2 dừng e lại. Bị cáo bước uống, lấy con dao cất giấu trong ngư i trước đó, chạy vào chỗ ông T đang ngồi nhậu ở hè nhà với ông Bùi Tá H1 và ông Nguyễn Tiến Đ3. Bị cáo vừa chạy vào vừa nói “Anh lớn anh nói chuyện sao”, tay phải bị cáo nắm lấy tay trái ông T, tay trái của bị cáo cầm con dao vung lên dọa chém. Ông T kêu “từ từ nói” thì bị cáo cầm tay k o ông T ra ngoài sân (cách hè khoảng 01 m t) để nói chuyện. Liền tiếp, bị cáo bỏ tay ông T ra, đứng đối diện gần ông T tầm n a m t. Tay phải bị cáo chỉ về phía ông T, tay trái cầm con dao. Lúc đầu, trong lúc nói chuyện bị cáo cầm dao tay trái vung lên cao dọa ch m ông T, nhưng sau đó bị cáo hạ thấp tay cầm dao uống ngang tầm với đầu, rồi ch m 01 (một) cái theo hướng uyên ch o (từ trên uống dưới từ trái qua phải), ông T đưa tay phải lên đỡ thì trúng vào cánh tay phải. Sau khi ch m ong, bị cáo bỏ chạy ra ngoài rồi leo lên e của ông T2 chở đi. Đến ngày 20/9/2024, bị cáo đến Công an xã N (Nay là Công an xã T) trình diện và giao nộp con dao nói trên. Ông T được mọi ngư i đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện T, sau đó chuyển nhập viện tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Q điều trị từ ngày 16/9/2024 đến ngày 20/9/2024 thì uất viện.

Tại Bản kết luận giám định số 343/KLTTCT-TTPY, ngày 07/10/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Q kết luận thương tích của ông Nguyễn Văn T như sau: Gãy thân ương trụ cẳng tay phải: 09%; sẹo mổ qua vết thương cẳng tay phải kt (6 0,1)cm: 03%. Tổng tỷ lệ: 11,73%, làm tròn = 12%(mư i hai phần trăm), tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.

Vật chứng:

- 01 (Một) con dao có tổng chiều dài 46cm (bốn mươi sáu centimet), phần cán gỗ dài 15cm (mư i lăm centimet), phần lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 31cm (ba mươi mốt centimet); chiều rộng nhất lưỡi dao dài 6cm (sáu centimet).

- 01 (một) USB nhãn hiệu KINGSTON 4GB (kí hiệu DTSE9 4GB) màu nhôm ám chứa 01 (một) đoạn video được trích uất từ camera an ninh nhà vợ chồng ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị H2 có th i lượng 00 phút 42 giây thể hiện th i gian từ 12 gi 15 phút 53 giây ngày 16/9/2024 đến 12 gi 16 phút 35 giây ngày 16/9/2024.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại thỏa thuận bồi thư ng các khoảng về chi phí điều trị và một phần chi phí bồi dưỡng tổn hại sức khỏe, tinh thần là: 40.000.000đ (bốn mươi triệu) đồng.

Về các tình tiết liên quan đến vụ án: Đối với ông Phan Tấn T2 không biết việc bị cáo lấy con dao và mục đích của bị cáo đi đến nhà ông T để gây thương tích, và khi Đ3 nh T2 chở đi thì không nói mục đích đi và làm gì nên T2 không biết nên hành vi của Phan Tấn T2 không đủ yếu tố cấu thành tội phạm với vai trò đồng phạm. Do đó Cơ quan điều tra không đề cập lý là đúng quy định.

Tại bản cáo trạng số 03/CT-VKS-TN ngày 24/12/2024 và văn bản số 157/VKS-TN ngày 25/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Quảng Ngãi đã truy tố bị cáo Võ Tấn Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS năm 2015, s a đổi bổ sung.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng t áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, s a đổi bổ sung, đề nghị tuyên bố bị cáo Võ Tấn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”; đề nghị

phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm sáu tháng tù. Về lý vật chứng, đối với 01 (Một) con dao đề nghị tuyên tiêu hủy, đối với 01 (một) USB nhãn hiệu KINGSTON 4GB kèm lưu theo vụ án. Về phần dân sự, đã thỏa thuận, đề nghị Hội đồng t áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 590 Bộ luật Dân sự ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại.

- Bị cáo ác định hành vi của bị cáo là đúng sự thật, bị cáo in giảm nhẹ hình phạt.

- Ngư i bào chữa cho bị cáo, ông V tranh luận và đề nghị: Hành vi phạm tội của bị cáo là lần đầu, ít nghiêm trọng; bị hại có một phần lỗi làm cho bị cáo bực tức nên bị cáo bị kích động tinh thần. Ý thức của bị cáo chỉ dọa và quơ trúng con dao vào cánh tay phải của bị hại, không có ý tấn công đến cùng ngư i bị hại. Th i điểm bị cáo gây thương tích cho bị hại, bị cáo hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi. Từ đó cho rằng mức hình phạt theo đề nghị của Viện kiểm sát là quá nghiêm khắc đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng t áp thêm các tình tiết tại điểm i, điểm e, điểm q khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự, mức hình phạt nhẹ hơn mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và cho bị cáo hưởng án treo.

- Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa tranh luận và đề nghị Hội đồng t

không áp dụng các tình tiết như ngư i bào chữa lập luận. Bởi lẽ, mâu thuẫn giữa bị cáo và bị hại đã được can thiệp và hòa giải, bị cáo còn có khả năng lựa chọn sự khác chứ không phải là dùng hung khí để gây thương tích cho bị hại, trong hoàn cảnh này bị hại không có lỗi. Đối với hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi tại th i điểm ảy ra vụ việc không phải là một bệnh lý nên không đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Mặc khác, trư ng hợp của bị cáo không phải là bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trư ng hợp ít nghiêm trọng. Sau khi sự việc gây thương tích cho bị hại, bị cáo lại tiếp tục gây thương tích ở một vụ án khác. Đối với việc áp dụng pháp luật để hạ khung hay không là phụ thuộc và quyết định của Hội đồng t .

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng t nhận định:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi của bị cáo: L i khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với l i khai của bị cáo ở giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với l i khai của bị hại, phù hợp với chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được Hội đồng t thẩm tra tại phiên tòa nên Hội đồng t có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 12 gi 15 phút ngày 16/9/2024, bị cáo ông vào nhà bị hại, nói chuyện, dùng dao dọa ch m bị hại. Liền sau đó, bị cáo và bị hại di chuyển ra ngoài và dừng lại nói chuyện. Trong lúc nói chuyện, bị cáo và bị hại đứng đối diện nhau, bị cáo đưa dao lên cao khỏi đầu, tư thế tiến về phía trước, bị cáo dùng tay trái ch m uống 01 (một) cái theo hướng uyên ch o (từ trên uống dưới từ trái qua phải, tay cầm dao của bị cáo không thẳng hết, có phần thu về phía bị cáo), bị hại đưa tay phải lên đỡ thì trúng vào cánh tay phải. Hành vi của bị cáo gây ra thương tích với tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể cho bị hại 12% (mư i hai phần trăm).

Như vậy, hành vi của bị cáo Võ Tấn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích” được qui định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 s a đổi, bổ sung. Do đó, Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Quảng Ngãi đối với bị cáo Võ Tấn Đ có căn cứ, đúng ngư i, đúng tội, đúng pháp luật.

Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng hành vi phạm tội của bị cáo. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho ã hội. Bị cáo là ngư i trưởng thành, có nhận thức, hiểu biết nhưng vì s dụng nhiều loại ma túy dẫn đến rối loạn loạn thần nên hạn chế khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi nên s dụng s dụng hung khí gây tổn hại đến sức khỏe bị hại. Việc hạn chế khả năng nhận thức của bị cáo là do lỗi của bị cáo gây ra. Hành vi của bị cáo không chỉ âm phạm đến sức khỏe của bị hại mà làm mất trật tự trị an địa phương. Do đó, cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo để trở thành ngư i công dân tốt cho ã hội, đồng th i đáp ứng được yêu cầu đấu tranh, giáo dục và phòng ngừa chung.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Hiện tại bị cáo đang bị điều tra lý trong một vụ án khác về hành vi cố ý gây thương tích.

Bị cáo hạn chế khả năng nhận thức tại th i điểm gây thương tích cho bị hại nên không áp dụng tình tiết phạm tội có tính chất côn đồ (không có tình tiết tăng nặng). Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo hạn chế khả năng nhận thức là do lỗi của bị cáo gây ra nên không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ này. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đã bồi thư ng thiệt hại cho bị hại và được bị hại in giảm nhẹ hình phạt, bản thân bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự nên Hội đồng t áp dụng các tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 s a đổi, bổ sung năm 2025 khi quyết định mức hình phạt cho bị cáo.

Về lý vật chứng:

Đối 01 (Một) con dao là hung khí gây thương tích cho bị hại, áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 s a đổi bổ sung, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên tịch thu tiêu hủy.

01 (một) USB nhãn hiệu KINGSTON 4GB (kí hiệu DTSE9 4GB) có chứa 01 (một) đoạn video ghi lại sự việc gây thương tích nên cần tuyên lưu kèm theo hồ sơ vụ án theo qui định.

Hình phạt bổ sung: Không.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thư ng xong 40.000.000 đồng các khoản.

Các tình tiết có liên quan: Hồ sơ vụ án thể hiện đối với ông Phan Tấn T2 không biết việc bị cáo đi đến nhà ông T để gây thương tích và khi bị cáo nh T2 chở đi thì không nói mục đích đi và làm gì nên T2 không biết. Sau khi ảy ra sự việc thì bị cáo mới nói cho T2 biết, ông T2 có khuyên bảo bị cáo. Giữa bị cáo với Phạm TấnTrung không có bàn bạc, trao đổi trước nên hành vi của Phan Tấn T2 không đủ yếu tố cấu thành tội phạm với vai trò đồng phạm nên Cơ quan cảnh sát điều tra không đề cập lý. Theo quy định về giới hạn t được qui định tại khoản 1 Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng t chỉ t bị cáo Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo như Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Quảng Ngãi truy tố.

Đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng t

nên được ghi nhận. L i bào chữa của ngư i bào chữa cho bị cáo không phù hợp với nhận định của Hội đồng t nên không được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo qui định. Đối với số tiền tự thỏa thuận bồi thư ng không phải nộp án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng điểm (a khoản 1) đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 32, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 s a đổi, bổ sung năm 2025.

Tuyên bố: Bị cáo Võ Tấn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

X phạt: Bị cáo Võ Tấn Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Th i hạn chấp hành tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2017, s a đổi bổ sung, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tuyên tịch thu, tiêu hủy: 01 (Một) con dao có tổng chiều dài 46cm (bốn mươi sáu centimet), phần cán gỗ dài 15cm (mư i lăm centimet), phần lưỡi dao bằng kim loại màu đen dài 31cm (ba mươi mốt centimet); chiều rộng nhất lưỡi dao dài 6cm (sáu centimet). Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/01/202, giữa Chi cục T3 (Nay là Phòng THANDS khu vực 4 – Quảng Ngãi và Cơ quan CSĐT Công an huyện T (Nay là Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q).

- Tuyên tịch thu, lưu kèm hồ sơ vụ án: 01 (một) USB nhãn hiệu KINGSTON 4GB (kí hiệu DTSE9 4GB) màu nhôm ám chứa 01 (một) đoạn video được trích uất từ camera an ninh nhà vợ chồng ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị H2 có th i lượng 00 phút 42 giây thể hiện th i gian từ 12 gi 15 phút 53 giây ngày 16/9/2024 đến 12 gi 16 phút 35 giây ngày 16/9/2024.

3. Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2017, s a đổi bổ sung; Điều 590 Bộ luật Dân sự, ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại về phần bồi thư ng, đã thực hiện ong.

4. Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Võ Tấn Đ phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong th i hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với ngư i vắng mặt, có quyền kháng cáo trong th i hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết bản án.

Cỡ chữ