- Tranh chấp gì? án hình sự — "Triệu Văn D, VPQĐ về BVĐVNCQH - phạm tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (điều 244 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Triệu Văn D phạm tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH LẠNG SƠN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2025/HS-ST Ngày 17 - 01- 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Tuyết.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Văn Xuân.
2. Ông Nguyễn Công Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Đàm Thành, Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nông Văn Hiển - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, đối với bị cáo:
Triệu Văn D, tên gọi khác: Không có; sinh ngày 10 tháng 02 năm 1962 tại huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Lớp 07/10; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L (đã chết) và bà Triệu Thị A (đã chết); vợ: Hoàng Thị T, sinh năm 1963; con: Có 05 con, con lớn nhất sinh năm 1984, nhỏ nhất sinh năm 1993; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 09/10/2023 Hạt Kiểm lâm huyện H, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính số tiền 6.000.000 đồng về hành vi mua, vận chuyển lâm sản trái phép ngày 11/10/2023, đã nộp phạt xong.
Bị cáo bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện H từ ngày 11/11/2024 đến nay đến ngày 13/11/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Lý Văn C, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 11/11/2024, Triệu Văn D thấy trong vườn nhà ở Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn có 01 con rắn hổ chúa dài khoảng 02 mét nên nảy sinh ý định bắt đem bán. D vào bếp lấy 01 đoạn cây khô dài khoảng 1,2 mét, tay trái cầm đoạn cây đè đầu con rắn, tay phải cầm vào đầu con rắn rồi cho vào túi vải màu trắng, buộc miệng túi bằng dây tơ dứa màu đỏ, cho vào một túi vải màu trắng buộc thắt nút và cho vào vỏ bao đựng cám hiệu “C” màu xanh. Triệu Văn D để bao đựng rắn ở phần để chân phía trước của xe mô tô biển số 12H1-335.37 nhãn hiệu Honda Vision điều khiển đi thị trấn H tìm người mua. Đến khoảng 11 giờ 15 phút cùng ngày, khi đi đến thôn C, xã Y, huyện H thì dừng lại nghỉ, do biết rắn hổ chúa là động vật cấm mua bán nên khi dừng lại D cầm bao đựng rắn để vào trong vườn na cạnh đường để tránh bị phát hiện, sau đó bị Công an đến kiểm tra, D trình bày đang trên đường đem con rắn hổ chúa đi bán và đi vào vườn na lấy bao đựng rắn giao nộp cho Công an.
Tại kết luận giám định hình thái động vật số 1942/STTNSV, ngày 11/11/2024 của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật thuộc Viện Hàn lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam kết luận: 01 cá thể rắn còn sống là rắn hổ chúa có tên khoa học là Ophiophagus hannah, thuộc lớp bò sát Reptilia có tên trong phụ lục I, danh mục các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định số 64/2019/NĐ-CP, ngày 16/7/2019 của Chính phủ, rắn hổ chúa có tên trong nhóm IB, danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kèm theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP, ngày 22/9/2021 của Chính phủ.
Ngày 11/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện H bàn giao 01 cá thể rắn hổ chúa cho Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã H theo quy định.
Về vật chứng của vụ án quá trình điều tra làm rõ:
01 vỏ bao đựng cám nhãn hiệu “C”; 02 túi vài màu trắng là công cụ của Dùng để đựng con rắn.
01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A18 là của Dùng; 01 xe mô tô biển số 12H1-335.37 là của anh Lý Văn C, sinh năm 1982, ở thôn T, xã H, huyện H là con rể của D, C không liên quan đến việc phạm tội, ngày 23/12/2024 Cơ quan điều tra Công an huyện H đã trả lại cho chủ sở hữu, các vật chứng còn lại hiện đang tạm giữ.
Đối với 01 đoạn cây dài khoảng 1,2 mét Triệu Văn D làm công cụ để bắt con rắn, sau đó D cho vào bếp làm củi đun nên không thu giữ được.
Tại bản Cáo trạng số 06/CT-VKS ngày 03 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Triệu Văn D về tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 244 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố.
Anh Lý Văn C người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án tại phiên toà không có yêu cầu gì.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Triệu Văn D phạm tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm theo điểm a khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Hình sự và đề nghị: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 244, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Triệu Văn D từ 15 tháng đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng đến 36 tháng. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ 01 vỏ bao đựng cám và 02 túi vải màu trắng.
- Về án phí: Bị cáo được miễn án phí do thuộc trường hợp người cao tuổi, người dân tộc thiểu số sống ở cùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo trình bày đã ăn năn hối cải xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có ai có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 08 giờ, ngày 11/11/2024, Triệu Văn D thấy trong vườn nhà mình ở thôn Tân Lai, xã Hữu Liên, huyện Hữu Lũng có 01 cá thể rắn hổ chúa có tên khoa học là Ophiophagus hannah, thuộc lớp bò sát Reptilia là loài có tên trong danh mục các loài nguy cấp, quý, hiếm được bảo vệ nên đã bắt, cho vào túi vải và vỏ bao cám điều khiển xe mô tô đem theo con rắn đến thị trấn Hữu Lũng để bán. Đến khoảng 11 giờ 15 phút cùng ngày khi Triệu Văn D đang ngồi nghỉ ở cạnh đường thuộc thôn Chùa, xã Yên Thịnh, huyện Hữu Lũng thì bị Công an đến kiểm tra, lập biên bản và tạm giữ vật chứng. Như vậy, hành vi của bị cáo Triệu Văn D đã phạm tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm theo điểm a khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về bảo vệ động vật thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm. Khi phạm tội, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tội phạm mà mình đã gây ra.
Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng ngày 09/10/2023 bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi mua, vận chuyển lâm sản trái phép, đã chấp hành xong nên xác định có nhân thân xấu.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, trong quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo được 03 lần tặng giấy khen khi tham gia các hoạt động của thôn, xã nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Trên cơ sở xem xét, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao cám và 02 túi vải màu trắng do là công cụ dùng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng để sung công quỹ nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Tuy nhiên, do bị cáo là người cao tuổi và là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí căn cứ theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội đã xảy ra, đúng với các quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 244, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 65, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Triệu Văn D phạm tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm.
2. Xử phạt bị cáo Triệu Văn D 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 17/01/2025. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Hữu Liên, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao đựng cám nhãn hiệu “C” và 02 túi vải màu trắng.
Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 06/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Lạng Sơn.
4.Về án phí: Bị cáo được miễn án phí do thuộc trường hợp người cao tuổi và người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Hữu Lũng; - Công an huyện Hữu Lũng; - Cơ quan THAHS Công an huyện Hữu Lũng; - Chi cục THADS huyện Hữu Lũng; - Bị cáo; Người TGTT; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Tuyết |