- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Về việc bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 590 của Bộ luật Dân sự, ghi nhận các bị cáo Nguyễn Văn T, Phạm Tiến D và Nguyễn Thành C đã bồi thường toàn bộ thiệt hại do sức khỏe của anh Nguyễn Thế D bị xâm phạm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Thông tư số 22/2019/TT-BYT quy định tỷ lệ phần trăm tổn thươ…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 04/2025/HS-ST Ngày: 21-01-2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hà.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Tuyên và bà Trần Thị Gấm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Thúy Nga, là Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Quý - Kiểm Sát viên.
Ngày 21 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 83/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/HSST-QĐ ngày 07 tháng 01 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn T, sinh ngày 28-3-1994 tại tỉnh Đắk Nông; Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N (đã chết) và bà Trần Thị T; có 01 con chung sinh năm 2024 với chị Vũ Lan N; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 11-9-2024, đến ngày 31-10-2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú – Có mặt.
2. Phạm Tiến D, sinh ngày 05-8-1994 tại tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: TDP A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn L và bà Kiều Thị L; có vợ là Nguyễn Thị T, sinh năm 1999 và 01 con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 08-5-2015, bị Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông tuyên phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số 28/2015/HSST, đã chấp hành xong hình phạt, nộp án phí hình sự sơ thẩm ngày 14-7-2016, đã được xóa án tích; bị bắt tạm giam từ ngày 09-9-2024, đến ngày 31-10-2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú – Có mặt.
3. Nguyễn Thành C, sinh ngày 05-02-2003 tại tỉnh Đắk Nông; Nơi cư trú: TDP B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Tài xế taxi; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Bá C và bà Trương Thị H; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 31-3-2020, bị Công an huyện Đắk Song xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi lôi kéo người khác đánh nhau theo Quyết định số 32/QĐ-XPHC, nộp phạt 2.500.000 đồng và phạt chậm nộp 2.130.000 đồng ngày 09-12-2024; Ngày 29-11-2022, bị Công an huyện Đắk Song xử phạt vi phạm hành chính số tiền 6.500.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích”, nộp phạt ngày 15-12-2022; bị bắt tạm giam từ ngày 09-9-2024, đến ngày 31-10-2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú – Có mặt.
Bị hại: Anh Nguyễn Thế D, sinh năm 1986 – Có mặt.
Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Người làm chứng:
Anh Bạch Hưng T, sinh năm 1991 – Vắng mặt.
Anh Bạch Hưng Ti, sinh năm 1998 – Vắng mặt.
Anh Hoàng Văn N, sinh năm 1996 – Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Thôn Th, xã H, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Ông Phạm Văn N, sinh năm 1966 – Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1974 – Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn N, xã H, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do mâu thuẫn trong khi gọi điện thoại rủ nhau đánh bi da vào khoảng 22 giờ ngày 12-6-2024 nên Nguyễn Văn T và anh Nguyễn Thế D hẹn gặp nhau tại ngã ba Đồn 8 thuộc Thôn T, xã H, huyện Đ để nói chuyện, giải quyết mâu thuẫn. Trước khi đến điểm hẹn, Tâm gọi cho Phạm Tiến D, D gọi điện thoại thuê Nguyễn Thành C, làm nghề lái taxi đến nhà chở và đón T cùng đi. Trên xe, D ngồi ghế phía trước, T ngồi ghế sau. Khi gần tới điểm hẹn, T nói C dừng xe, xuống xe lấy 01 ống kim loại (là thân của một cây dù, dài khoảng 70cm, rộng 03cm) cầm lên xe.
Phía anh Nguyễn Thế D, sau khi nói chuyện với T thì gọi cho Bạch Hưng T rủ đi cùng, T đi cùng em trai là Bạch Hưng Ti, trên đường ra điểm hẹn Thế D gặp Hoàng Văn N nên nhờ N chở đi.
Vào khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, xe taxi do C chở T và D đến gặp nhóm của anh Nguyễn Thế D cùng N, T và Ti. T cầm ống kim loại xuống xe trước, Phạm Tiến D xuống sau đi theo T, còn C sau đó cũng xuống xe nhưng đứng gần cửa xe để hút thuốc lá. T đi lại chỗ anh Nguyễn Thế D để nói chuyện thì hai bên xảy ra cãi vã nên T dùng hai tay cầm ống kim loại đánh từ trên xuống trúng vào thân trên bên trái người anh Nguyễn Thế D. Thấy xảy ra đánh nhau, C mở cửa xe ô tô, lấy gậy baton để sẵn trên xe (gậy có cán màu đen, phần thân màu trắng bạc dài khoảng 70cm), cầm gậy bằng tay trái chạy lại đánh anh Nguyễn Thế D theo hướng từ trên xuống trúng phần thân trên, anh Nguyễn Thế D đưa tay ra đỡ nên bị C đánh trúng vào tay trái. Phạm Tiến D lúc này cũng dùng tay đánh anh Nguyễn Thế D. Thấy vậy, anh Bạch Hưng T tiến tới can ngăn nên T, C và D dừng việc đánh anh Nguyễn Thế D. Anh Nguyễn Thế D bị thương, được đưa đi điều trị tại Trung tâm y tế huyện Đắk Song, sau đó xin chuyển viện đến Bệnh viện STP Phương Đông để điều trị.
Xét thấy cần thiết cho việc điều tra, ngày 15-8-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Song đã tiến hành thực nghiệm điều tra tại Thôn T, xã H, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể số 207/KLTTCT-TTPY ngày 24-7-2024 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh Đăk Nông kết luận:
Các kết quả chính:
- Tổn thương nhánh nông thần kinh quay trái, tỷ lệ 11%;
- Trật khớp vai trái đã nắn chỉnh khớp, tỷ lệ 03%.
- Gãy mỏm trâm trụ xương cẳng tay trái không ảnh hưởng vận động khớp cổ tay, tỷ lệ 06%.
- Gãy xương bản V tay trái đã kết hợp xương, không hạn chế chức năng bàn tay và ngón tay, tỷ lệ 06%.
- 01 sẹo phần mềm 1/3 trên mặt ngoài cẳng tay trái, kích thước nhỏ, tỷ lệ 01%.
- 01 sẹo phần mềm mu bàn V tay trái, kích thước nhỏ, tỷ lệ 01%.
- Các vết sây sát da 1/3 trên bề mặt ngoài cẳng tay trái trong Thông tư số 22/2019/TT-BYT không có tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.
Kết quả cận lâm sàng:
- X/quang khớp vai trái: Theo dõi hình ảnh giãn khớp vay trái.
- X/quang xương cổ, bàn tay trái: Hình ảnh còn phương tiện kết hợp xương bàn V tay trái.
- Điện thần kinh cơ cánh, cẳng, bàn tay trái: Tổn thương nhánh nông dây thần kinh quay trái; dây thần kinh giữa và trụ: Bình thường.
Kết quả hội chẩn: Hội chẩn học tại phim X/quang khớp vai trái + X/quang cẳng, cổ, bàn tay trái của Trung tâm y tế huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông chụp ngày 13-6-2024; Bệnh viện STO Phương Đông, Thành phố Hồ Chí Minh chụp ngày 13-6-2024; Bệnh viên Quân Y 175 chụp ngày 15-7-2024.
- Gãy nền xương bàn V tay trái.
- Gãy mỏm trâm trụ trái.
- Trật khớp vai trái.
Các kết quả khác: Không.
Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28-8-2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Thế D tại thời điểm giám định là 25% áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Kết luận khác: Không.
Ngày 30-8-2024, Trung tâm Pháp y tỉnh Đắk Nông ban hành Công văn số 24/CV-TTPY, trả lời Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Song, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Thế D tại thời điểm giám định là 25% áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư, không bao gồm tỷ lệ gãy cũ xương đòn trái.
Đối với đoạn nối của cây dù bằng sắt dài khoảng 70cm, rộng 03cm, sau khi đánh nhau T mang về nhà để trước sân và bị mất; 01 gậy baton cán màu đen, phần thân gậy màu trắng bạc dài khoảng 70cm, sau khi đánh nhau Phạm Tiến D đã vứt bỏ trên đường về nhà, 02 vật chứng này Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Song đã tổ chức truy tìm nhưng không phát hiện, không thu giữ được.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 25-9-2024, các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Thế D số tiền 160.000.000 đồng, bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Bản cáo trạng số 01/CT-VKS-ĐS ngày 09 tháng 12 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song quyết định truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Đăk Song để xét xử Nguyễn Văn T, Phạm Tiến D và Nguyễn Thành C về tội:“Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung cáo trạng truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm a khoản 1 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 18 tháng đến 21 tháng tù.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm a khoản 1 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Tiến D từ 18 tháng đến 21 tháng tù.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm a khoản 1 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành C từ 18 tháng đến 21 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Song đã tổ chức truy tìm nhưng không thu giữ được nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về bồi thường thiệt hại: Các bị cáo đã bồi thường tổng số tiền 160.000.000 đồng cho bị hại. Bị hại anh Nguyễn Thế D không yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Tại phiên tòa: Các bị cáo khai nhận như khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố là hoàn toàn đúng với hành vi đã thực hiện, không bào chữa gì và công khai xin lỗi bị hại.
Bị hại anh Nguyễn Thế D trình bày tình hình sức khỏe hiện tại đã ổn định, đã nhận tổng cộng 160.000.000 đồng tiền bồi thường từ các bị cáo, không yêu cầu bồi thường gì thêm, chấp nhận lời xin lỗi của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Lời nói sau cùng của các bị cáo:
Bị cáo Nguyễn Văn T: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai quy định của pháp luật. Bị cáo xin lỗi anh Nguyễn Thế D và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Bị cáo Phạm Tiến D: Bị cáo đã biết hành vi của mình là sai trái, cảm thấy ăn năn, hối hận. Bị cáo xin lỗi anh Nguyễn Thế D và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để được sớm trở về với gia đình.
Bị cáo Nguyễn Thành C: Bị cáo đã biết việc mình gây thương tích cho anh Dũng là sai, cảm thấy ăn năn, hối hận. Bị cáo xin lỗi anh Nguyễn Thế D và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đắk Song, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ căn cứ xác định: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 12 tháng 6 năm 2024, do xích mích trong việc rủ nhau đánh bi da, anh Nguyễn Thế D bị các bị cáo Nguyễn Văn T, Phạm Tiến D và Nguyễn Thành C dùng đoạn nối của cây dù bằng sắt và 01 gậy baton đánh vào phần thân trên bên trái, vai trái và cẳng tay trái, gây thương tích tỷ lệ 25%. Các bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được dùng cây sắt, gậy, là hung khí nguy hiểm đánh vào người khác sẽ có khả năng gây tổn hại đến sức khỏe nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Thương tích của bị hại do T và C gây ra. Tuy nhiên, khi T nói C dừng xe, xuống lấy đoạn nối của cây dù và cầm lên xe thì bị cáo D đã nhận thức được có thể xảy ra đánh nhau. Khi Tâm đánh anh Nguyễn Thế D, bị cáo Phạm Tiến D không những không can ngăn mà còn dùng tay đánh vào người anh Nguyễn Thế D 02 cái. Vì vậy, các bị cáo phải gánh chịu hậu quả chung đối với tỷ lệ thương tích đã gây ra cho bị hại. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo phạm tội có tính chất đồng phạm giản đơn, không câu kết chặt chẽ, không bàn bạc, phân công nhiệm vụ nên không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội có tổ chức hoặc tình tiết định khung hình phạt có tổ chức.
. Tình tiết định khung hình phạt: Các bị cáo dùng cây sắt, gậy, là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại, tỷ lệ tổn thương cơ thể 25% nên phải chịu tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự quy định: “2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ a đến k khoản 1 Điều này.”
Điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự quy định: “a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người”.
. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi của mình, có thái độ ăn năn, hối cải, xin lỗi công khai đối với bị hại được bị hại chấp nhận; đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại, được bị hại viết đơn xin bãi nại và giảm nhẹ hình phạt. Do đó, các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
. Về quyết định hình phạt: Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của các bị cáo là coi thường sức khỏe của người khác, làm ảnh hưởng đến trật tự, trị an của địa phương, cần phải áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn để đảm bảo tác dụng răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng cân nhắc các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã bồi thường toàn bộ cho bị hại, được bị hại xin bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt, tại phiên tòa bị hại anh Nguyễn Thế D trình bày tình hình sức khỏe đã ổn định, áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, giúp các bị cáo tu dưỡng, rèn luyện để trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.
Về phân hóa hình phạt: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Nguyễn Văn T có vai trò chính nhưng phạm tội lần đầu; bị cáo Phạm Tiến D dùng tay đánh Nguyễn Thế D nhưng năm 2015 đã từng bị kết án; bị cáo Nguyễn Thành C sử dụng gậy baton đánh Nguyễn Thế D nhưng có 02 tiền sự. Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo như trên, áp dụng hình phạt đối với các bị cáo ngang nhau.
. Về việc bồi thường thiệt hại: Bị hại anh Nguyễn Thế D đã nhận tiền bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm từ các bị cáo T, D và C tổng cộng 160.000.000 đồng. Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, Hội đồng xét xử ghi nhận các bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại về sức khỏe của anh Nguyễn Thế D bị xâm phạm.
. Về việc xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Song đã tổ chức truy tìm nhưng không có kết quả, không thu giữ được vật chứng nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng điểm đ khoản 2 và điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Phạm Tiến D và Nguyễn Thành C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 và điểm a khoản 1 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 11-9-2024 đến ngày 31-10-2024.
Áp dụng điểm đ khoản 2 và điểm a khoản 1 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Tiến D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 09-9-2024 đến ngày 31-10-2024.
Áp dụng điểm đ khoản 2 và điểm a khoản 1 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 09-9-2024 đến ngày 31-10-2024.
2. Về việc bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 590 của Bộ luật Dân sự, ghi nhận các bị cáo Nguyễn Văn T, Phạm Tiến D và Nguyễn Thành C đã bồi thường toàn bộ thiệt hại do sức khỏe của anh Nguyễn Thế D bị xâm phạm.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Nguyễn Văn T, Phạm Tiến Dũng và Nguyễn Thành C mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND tỉnh Đắk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông; - Phòng PV06 Công an tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Đắk Song; - Công an huyện Đắk Song; - THADS huyện Đắk Song; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu: HS, VP. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đã ký và đóng dấu Lê Thị Thu Hà |