- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bj cáo Nguyễn Sơn T và Nguyễn Việt H phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 2…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Việt H và Nguyễn Sơn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT HẢI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2025/HS-ST Ngày 17-01-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT HẢI, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Như Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Vũ Thị Bắc
Bà Đoàn Thị Tiến
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tất Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng.
- Người tiến hành tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Ông Tô Đình Phúc Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lam - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng và tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 52/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Việt H, sinh ngày 21/11/1994 tại Hải Phòng; nơi thường trú: T, xã X, huyện C, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: T, xã X, huyện C, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Mạnh H và bà Phạm Thị T; có vợ là Vũ Thị H; có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ ngày 25/9/2024 đến ngày 04/10/2024 chuyển tạm giam; có mặt.
2. Nguyễn Sơn T, sinh ngày 24/8/1995 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn A, xã P, huyện C, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Đình T (đã chết) và bà Phạm Thị S; có vợ là Trương Thị H (đã ly hôn năm 2023); chưa có con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ ngày 25/9/2024 đến ngày 04/10/2024 chuyển tạm giam; có mặt.
- Người chứng kiến: Ông Vũ Văn H; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ 50 phút ngày 24/9/2024, bị cáo Nguyễn Sơn T và Nguyễn Việt H bàn bạc với nhau về việc mua ma tuý để cùng sử dụng. Cả hai hẹn nhau mua ma tuý tại thị trấn Cát Bà, huyện Cát Hải, Hải Phòng. Khi đi bị cáo H cầm theo bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm 01 chai nhựa màu tím có cắm ống hút trắng và 01 cóong thuỷ tinh, 01 bật lửa màu đỏ. Bị cáo T đưa cho bị cáo H 300.000 đồng để mua ma tuý. Bị cáo H sau đó đi vào khu vực nhà tầng ở thị trấn Cát Bà, huyện Cát Hải mua của một người phụ nữ không quen biết 300.000 đồng được 01 gói ma tuý đá. Sau đó cả hai bị cáo cùng đi taxi về khu vực rừng thuộc thôn Ao Cối, xã Phù Long, huyện Cát Hải và cùng nhau sử dụng ma tuý. Bị cáo H bỏ dụng cụ đã chuẩn bị sẵn, cho ma tuý vào châm lửa hút trước sau đó đưa cho bị cáo T sử dụng, cả hai thay nhau lần lượt sử dụng cho đến khi hết số ma tuý đã mua. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, các bị cáo bị Công an xã Phù Long, huyện Cát Hải bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Người chứng kiến tại phiên toà đã khai: Khoảng 23 giờ 50 phút ngày 24/9/2024, ông được Công an xã Phù Long mời đến chứng kiến về việc có bắt giữ 02 nam thanh niên đang có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Hai người khai nhận họ tên: Nguyễn Việt H và Nguyễn Sơn T, là hai bị cáo tại phiên toà hôm nay. Tại trụ sở công an xã, ông đã chứng kiến việc lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ và niêm phong tang vật và chứng kiến việc lấy lời khai của các bị cáo. Việc khai nhận của các bị cáo tại cơ quan Công an đều là tự nguyện, khách quan, không bị ép buộc.
Kết luận giám định số 1131/KL-KTHS ngày 30/9/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất lỏng không màu bám dính trong chai nhựa màu tím tìm thấy chất ma tuý, loại Methamphetamine dạng vết, không đủ điều kiện xác định hàm lượng, khối lượng chất ma tuý trên. Mẫu nước tiểu của Nguyễn Sơn T gửi giám định tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu nước tiểu của Nguyễn Việt H gửi giám định tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine.
Bản Cáo trạng số 06/CT-VKS ngày 27/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng đã nêu, xác nhận điều tra, truy tố đối các bị cáo là không oan sai, trong quá trình điều tra, việc khai báo là hoàn toàn tự nguyện, đúng sự thật.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận về hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Đại diện Viện kiểm sát phân tích hành vi, vai trò và nhân thân của từng bị cáo trong vụ án. Viện Kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Việt H và bị cáo Nguyễn Sơn T, mỗi bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, vì các bị cáo lao động tự do, không có thu nhập ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn.
- Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu huỷ đối với các vật chứng trong vụ án.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo đồng ý với tội danh và mức phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Các bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, rất ăn năn, hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cát Hải, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng trong vụ án, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh và khung hình phạt:
Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với Cáo trạng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đã làm rõ: Ngày 24/9/2024, tại khu vực rừng cây thuộc thôn Ao Cối, xã Phù Long, huyện Cát Hải, Hải Phòng, bị cáo Nguyễn Sơn T và Nguyễn Việt H có hành vi góp tiền mua ma tuý, chuẩn bị dụng cụ để cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy. Theo kết luận giám định thì chất ma tuý mà các bị cáo sử dụng trái phép đó là loại ma tuý Methamphetamine.
Như vậy, hành vi nêu trên của các bị cáo đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt đã được quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng trên là có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.
Đây là vụ án có đồng phạm, mặc dù là đồng phạm giản đơn, nH cũng cần phân tích vai trò của từng bị cáo trong vụ án:
Đối với bị cáo T, bị cáo là người khởi xướng việc sử dụng ma tuý, bị cáo chủ động đóng góp số tiền 300.000 đồng cho bị cáo H để mua ma tuý, sau đó bị cáo cũng là người thực hành tích cực khi cùng bị cáo H lần lượt, thay nhau sử dụng ma tuý.
Đối với bị cáo H, bị cáo là người thực hành tích cực với hành vi trực tiếp mua ma túy Methamphetamine và chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy. Sau đó bị cáo cùng bị cáo T thay nhau sử dụng ma tuý. Do đó cần đánh giá hai bị cáo có vai trò ngang nhau trong vụ án.
Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, xâm phạm đến khách thể là chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, chất gây nghiện. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Cả hai bị cáo đã tham gia và hoàn thành nghĩa vụ quân sự đối với Nhà nước; bị cáo T được tặng Giấy khen của Ban chấp hành Đoàn thanh niên xã Phù Long, có bà nội được tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhì. Do đó, các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo có nhân thân tốt, nhiều tình tiết giảm nhẹ, Hội đồng xét xử thấy áp dụng cho các bị cáo mức hình phạt thấp nhất theo mức đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là đủ tính răn đe, giáo dục đối với các bị cáo.
- Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự quy định "5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản" do đó, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy các bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 chai chai nhựa màu tím; 01 ống hút nhựa màu trắng được hoàn lại sau giám định theo niên phong số 1131MT/PC09 và 01 bật lửa gas màu đỏ chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cát Hải là vật thuộc loại Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về các vấn đề khác:
Đối với người phụ nữ bán ma túy cho các bị cáo, do các bị cáo không biết, quá trình điều tra cũng không xác định được cụ thể tên, tuổi và địa chỉ của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở lập hồ sơ xử lý là có căn cứ.
Về án phí hình sự: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự,
- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Việt H và Nguyễn Sơn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Việt H 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 25/9/2024.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Sơn T 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 25/9/2024.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 chai nhựa màu tím, 01 ống hút nhựa màu trắng được hoàn lại sau giám định theo niên phong số 1131MT/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng và 01 bật lửa gas màu đỏ theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 27/12/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cát Hải và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cát Hải.
Về án phí hình sự: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Các bị cáo; - TAND TP Hải Phòng; - VKSND TP Hải Phòng; - Trại tạm giam Công an TP Hải Phòng; - Sở Tư pháp TP Hải Phòng; - Công an TP Hải Phòng (PV06, PC10); - VKSND huyện Cát Hải; - Công an huyện Cát Hải; - Cơ quan Cảnh sát điều tra CA huyện Cát Hải; - Chi cục THADS huyện Cát Hải; - UBND các xã Xuân Đám, Phù Long, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Như Quỳnh THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đỗ Thị Như Quỳnh |