vanban.org

Bản án 05/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu H xin ly hôn anh Trần Quang C.

Xử cho chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn với anh Trần Quang C. Về con chung: Giao cả 02 con chung là cháu Trần Ngọc Hà, sinh ngày 02/12/2010 và cháu Trần Gia Bảo, sinh ngày 06/12/2016 cho chị Hoàn trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Anh Châu không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì chị Hoàn tự ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị H xin ly hôn anh C"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu H xin ly hôn anh Trần Quang C.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 23/01/2025
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ-TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Cẩm Vân

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Vũ Hùng Tuấn và ông Đỗ Minh

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Đức Minh - Thư ký tòa án Toà án nhân dân thành phố Việt Trì.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2025 tại Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 402/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn và con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXX-ST ngày 24 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/QĐST-HNGĐ ngày 06/01/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Khu Minh Bột, phường Minh Nông, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Bị đơn: Anh Trần Quang C, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Khu Minh Bột, phường Minh Nông, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

(Chị Hoàn có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Châu vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H trình bày:

Chị và anh Trần Quang C đăng ký kết hôn ngày 24/11/2009 tại UBND phường Minh Nông, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ trên cơ sở tự nguyện. Sau khi vợ chồng kết hôn thì chị và anh Châu ở nhà riêng tại Khu Minh Bột, phường Minh Nông, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, dẫn đến nhiều lần cãi vã, đánh nhau xảy xa xô xát. Đã nhiều lần trưởng khu dân cư và Công an phường vào can thiệp nhiều lần.

Nay chị xác định tình cảm vợ chồng thực sự không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn chị được với anh Châu.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Trần Ngọc Hà, sinh ngày 02/12/2010 và cháu Trần Gia Bảo, sinh ngày 06/12/2016. Hiện 02 con chung đang ở cùng với chị tại Khu Minh Bột, phường Minh Nông, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Khi ly hôn chị đề nghị được trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cả 02 con chung, chị không đề nghị anh Châu phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị xác định vợ chồng không có, nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Phía bị đơn, anh Trần Quang C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án để làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, không tham gia phiên tòa.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành xác minh tại gia đình anh Trần Quang C và chính quyền địa phương thì xác định: Đối với các văn bản tố tụng mà Toà án đã tống đạt, trưởng khu dân cư đã thông báo cho anh Châu biết để thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, tuy nhiên anh Châu vẫn vắng mặt tại Tòa án. Ngoài ra chị Hoàn có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án được.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, đều thực hiện đúng quy định pháp luật. Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu H, chị Hoàn được ly hôn anh Châu; Về con chung: Giao cả 02 con chung cho chị Hoàn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh Châu không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì chị Hoàn tự nguyện không yêu cầu; Về án phí: Chị Hoàn phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

- Xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con chung thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn có nơi cư trú tại phường Minh Nông, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ nên Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ thụ lý, xét xử là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về sự có mặt, vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt. Anh Trần Quang C được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị Hoàn, anh Châu là phù hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

.Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàn, anh Châu kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc và có đăng ký kết hôn tại UBND phường Minh Nông, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Sau khi kết hôn một thời gian cuộc sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, đã nhiều lần chính quyền phải vào tận nhà để giải quyết mâu thuẫn. Nay chị Hoàn nhận thấy tình cảm với anh Châu không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Châu.

Quá trình giải quyết vụ án anh Châu không đến Tòa án làm việc nên không có quan điểm trình bày gì về việc ly hôn. Căn cứ kết quả xác minh tình trạng hôn nhân tại địa phương nơi anh Châu cư trú thấy phù hợp với lời trình bày của chị Hoàn. Hội đồng xét xử thấy rằng có đủ căn cứ khẳng định chị Hoàn và anh Châu không còn yêu thương, quan tâm đến nhau, mâu thuẫn cũng đã được hai bên gia đình, chính quyền địa phương khuyên giải nhưng không có kết quả. Do vậy tình trạng hôn nhân giữa chị Hoàn, anh Châu đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Trong quá trình giải quyết vụ án anh Châu không đến Tòa án để làm việc và hòa giải, không trình bày quan điểm gì có thể thấy anh Châu không có mong muốn đoàn tụ, không có nguyện vọng để giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Việc chị Hoàn xin ly hôn với anh Châu là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận là phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về con chung: Chị Hoàn xác nhận vợ chồng có 02 con chung là cháu Trần Ngọc Hà, sinh ngày 02/12/2010 và cháu Trần Gia Bảo, sinh ngày 06/12/2016. Hiện con chung đang ở với chị, ly hôn chị Hoàn có nguyện vọng xin được nuôi con chung và không đề nghị anh Châu phải cấp dưỡng nuôi con.

Xét về điều kiện chăm sóc và nuôi dạy con chung của hai bên đương sự thấy rằng: Căn cứ vào tình hình thực tế hiện con chung vẫn đang ở với chị Hoàn. Nguyện vọng chị Hoàn xin nuôi con chung là chính đáng vì anh Châu không có quan điểm gì về việc nuôi con chung trong quá trình giải quyết vụ án, như vậy là anh Châu từ bỏ quyền và lợi ích hợp pháp cũng như trách nhiệm của người bố trong việc thể hiện quan điểm về việc nuôi dạy, chăm sóc con chung. Đồng thời, các con chung có nguyện vọng tại bản tự khai xin được ở với chị Hoàn.

Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy để đảm bảo quyền lợi cho con chung, cần chấp nhận đề nghị của nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Thu H. Giao cho chị Hoàn được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cả 02 con chung là cháu Trần Ngọc Hà, sinh ngày 02/12/2010 và cháu Trần Gia Bảo, sinh ngày 06/12/2016 cho đến khi con chung thành niên là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

- Về tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp: Chị Hoàn xác định vợ chồng không có, ly hôn chị không đề nghị Tòa án giải quyết. Anh Châu không đến Tòa án làm việc nên không có quan điểm gì về các vấn đề trên nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên cần chấp nhận.

Về án phí: Chị Hoàn phải nộp tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và Điều 26 Luật thi hành án dân sự.

Xử:

1.Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu H xin ly hôn anh Trần Quang C.

Xử cho chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn với anh Trần Quang C.

2. Về con chung: Giao cả 02 con chung là cháu Trần Ngọc Hà, sinh ngày 02/12/2010 và cháu Trần Gia Bảo, sinh ngày 06/12/2016 cho chị Hoàn trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Anh Châu không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì chị Hoàn tự nguyện không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp: Chị Hoàn xác định vợ chồng không có, ly hôn chị không đề nghị Tòa án giải quyết. Anh Châu không đến Tòa án làm việc nên không có quan điểm gì về các vấn đề trên nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị Hoàn đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003323 ngày 12/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã (phường) nơi các đương sự thường trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Cẩm Vân Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Các đương sự;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

- VKSND thành phố Việt Trì;

- UBND phường Minh Nông, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ;

- Lưu: HSVA,VP.

Nguyễn Cẩm Vân

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH PHÚ THỌ

Số: /2025/TL-TA

Việt Trì, ngày 03 tháng 03 năm 2025

TRÍCH LỤC

BẢN ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH SƠ THẨM

Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 05/2024/HNGĐ-ST ngày 23/01/2025 giữa:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Khu Minh Bột, phường Minh Nông, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Bị đơn: Anh Trần Quang C, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Khu Minh Bột, phường Minh Nông, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và Điều 26 Luật thi hành án dân sự.

Xử:

1.Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu H xin ly hôn anh Trần Quang C.

Xử cho chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn với anh Trần Quang C.

2. Về con chung: Giao cả 02 con chung là cháu Trần Ngọc Hà, sinh ngày 02/12/2010 và cháu Trần Gia Bảo, sinh ngày 06/12/2016 cho chị Hoàn trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Anh Châu không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì chị Hoàn tự nguyện không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp: Chị Hoàn xác định vợ chồng không có, ly hôn chị không đề nghị Tòa án giải quyết. Anh Châu không đến Tòa án làm việc nên không có quan điểm gì về các vấn đề trên nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị Hoàn đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003323 ngày 12/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Cỡ chữ