- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: chị Ngô Thị Thuý L được ly hôn với anh Phạm Xuân P.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2025/HNGĐ - ST Ngày 15/01/2025 “V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG - TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: ông Nguyễn Văn Điền.
- Các hội thẩm nhân dân: ông Trần Xuân Giới và Phạm Thị Hiền
- Thư ký phiên tòa: ông Lê Trung Nghĩa - Là thư ký Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh: ông Hồ Sỹ Trung - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 15 tháng 01 năm 2025, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xét xử công khai sơ thẩm vụ án thụ lý số: 191/2024/TLST - HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2024 về việc: "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 246/2024/QĐXX - ST ngày 02 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 249/2024/QĐST- HNGĐ ngày 23/12/2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: chị Ngô Thị Thuý L, sinh năm 1984; nơi thường trú: tổ 5, khu 9, phường H, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
Tạm trú: căn 2.17.05 CC Dragon Castle, tổ 10, khu 10, phường B, thành phố Hạ Long, có mặt.
* Bị đơn: anh Phạm Xuân P, sinh năm 1983; nơi thường trú: tổ 5, khu 9, phường H, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, (anh P đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2), vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 17/6/2023, bản tự khai và tại phiên toà nguyên đơn chị Ngô Thị Thuý L trình bày: chị tự nguyện kết hôn với anh Phạm Xuân P vào ngày 13 tháng 10 năm 2008, đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống cùng nhau tại tổ 5, khu 9, phường H, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến tháng 12 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính cách hai bên không hợp nhau, bất đồng về quan điểm sống làm ăn sinh hoạt, bản thân chị và gia đình hai bên cũng đã động viên khuyên giải nhiều lần nhưng anh P không tiếp thu sửa chữa dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng. Hai bên sống ly thân từ đó cho đến nay.
Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng không thể khắc phục được, có tiếp tục chung sống cũng không thể đem lại hạnh phúc cho nhau, nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Phạm Xuân P để sớm ổn định cuộc sống.
- Về con chung: Chị L trình bày vợ chồng có 02 con chung Phạm Quỳnh A, sinh ngày 27/8/2009 và Phạm Ngọc Bảo A, sinh ngày 20/6/2021. Toà án giải quyết ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng nuôi con, chị có đủ điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng con chung chu đáo.
- Về tài sản chung và vay nợ: Chị L xác định vợ chồng có tài sản chung hai bên tự thoả thuận và không vay nợ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã giao giấy triệu tập, thông báo thụ lý vụ án và tống đạt thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho anh P song anh P đều vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Toà án đã lập biên bản về việc không tiến hành hoà giải được do anh P vắng mặt làm căn cứ để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tòa án đã tiến hành xác minh tại UBND phường H, thành phố Hạ Long nơi chị L và anh P đang sinh sống, ông Nguyễn Hữu T trưởng khu 9 và ông Nhâm Sỹ Thuộc - Phó chủ tịch UBND phường H, thành phố Hạ Long cho biết, chị Ngô Thị Thuý L, sinh năm 1984 và anh Phạm Xuân P, sinh năm 1983 kết hôn với nhau vào năm 2008, đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống cùng nhau tại tổ 5, khu 9, phường H, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính cách hai bên không hợp nhau, bất đồng về quan điểm sống, sau đó chị L đưa 02 con về phường B, thành phố Hạ Long sinh sống, hai bên sống ly thân nhau.
Nay chị L có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh P, quan điểm của địa P nếu vợ chồng không về đoàn tụ được thì đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định của pháp luật để giải quyết.
- Về con chung: chị L và anh P có 02 con chung Phạm Quỳnh A, sinh ngày 27/8/2009 và Phạm Ngọc Bảo A, sinh ngày 20/6/2021, nếu vợ chồng không về đoàn tụ đề nghị Tòa án căn cứ theo nguyện vọng của con chung cũng như điều kiện thực tế của các bên để giao cho người có đủ điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng.
- Về tài sản chung và vay nợ của chị L và anh P địa P không nắm được.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà có quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự; trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: kể từ khi thu lý vụ án cho đến tại phiên toà, nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt tại phiên toà, vi phạm về quyền và nghĩa vụ của mình
- Về việc giải quyết vụ án: căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82,83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long nhận định:
Về thủ tục tố tụng: chị Ngô Thị Thuý L khởi kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn đối với anh Phạm Xuân P; nơi thường trú: tổ 5, khu 9, phường H, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Do vậy, đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh theo quy định tại các Điều 28, 35 và 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quá trình thụ lý giải quyết Tòa án đã tống đạt cho nguyên đơn và bị đơn đầy đủ các văn bản tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân của chị Ngô Thị Thuý L và anh Phạm Xuân P là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống cùng nhau tại tổ 5, khu 9, phường H, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến tháng 12 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính cách hai bên không hợp nhau, bất đồng về quan điểm sống làm ăn sinh hoạt, dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng. Tại phiên toà anh P vắng mặt không có lý do, điều đó thể hiện không phải anh P mong muốn vợ chồng về đoàn tụ mà là gây khó khăn cho chị L cũng như Toà án trong trong quá trình giải quyết vụ án.
Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng không thể khắc phục được, có tiếp tục chung sống cũng không đem lại hạnh phúc cho nhau, nên chị L yêu cầu Tòa giải quyết cho ly hôn giữa chị và anh P để sớm ổn định cuộc sống. Trong thời gian sống ly thân vợ chồng cũng không có biện pháp gì để khắc phục mâu thuẫn và không còn quan tâm dành tình cảm cho nhau là sự thật. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn chị Ngô Thị Thuý L với anh Phạm Xuân P là có căn cứ phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được HĐXX chấp nhận.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị Ngô Thị Thuý L và anh Phạm Xuân P có 02 con chung Phạm Quỳnh Anh, sinh ngày 27/8/2009 và Phạm Ngọc Bảo Anh, sinh ngày 20/6/2021, hiện tại chị L đang trực tiếp nuôi dưỡng.
Xét thấy, việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau ly hôn là trách nhiệm của các bên, mặt khác để đảm bảo sự phát triển về thể chất, tinh thần cũng như việc học tập và nguyện vọng của các cháu, nên giao 02 con chung Phạm Quỳnh Anh và Phạm Ngọc Bảo Anh cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi) là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Trong bản tự khai và tại phiên hòa giải tiếp cận công khai chứng cứ chị L cũng không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết, nếu sau này chị L có yêu cầu sẽ được giải quyết bằng vụ án dân sự khác.
Về tài sản chung và nợ chung: Trong bản tự khai và tại phiên toà chị L xác định vợ chồng có tài sản chung hai bên tự thoả thuận và không vay nợ ai, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.
Về nghĩa vụ chịu án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Nên chị L phải chịu toàn bộ án phí dân sự ly hôn sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28; Điều 35; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Ngô Thị Thuý L.
Xử:
1.Về hôn nhân: chị Ngô Thị Thuý L được ly hôn với anh Phạm Xuân P.
2.Về con chung: giao 02 con chung Phạm Quỳnh A, sinh ngày 27/8/2009 và Phạm Ngọc Bảo A, sinh ngày 20/6/2021 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi các con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Anh P không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ qua lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con không ai được cản trở.
3.Về án phí: chị Ngô Thị Thuý L phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn chị L đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001055 ngày 23/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
4.Về quyền kháng cáo: có mặt nguyên đơn chị Ngô Thị Thuý L báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Vắng mặt bị đơn anh Phạm Xuân P báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án./.
| Nơi nhận: - VKSND Tp Hạ Long; - Tòa án ND tỉnh Quảng Ninh; - Chi cục THADS Tp Hạ Long; - Các đương sự; -UBND phường H (nơi đăng ký kết hôn); - Lưu hồ sơ + VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Điền |