- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? [1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị X, bà Phạm Thị X được ly hôn với ông Lê Minh K.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2025/HNGĐ-ST Ngày: 20-01-2025. “V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình - ly hôn, nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Trinh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hồng Thơ.
2. Bà Bùi Thị Hoàng.
- Thư ký phiên toà: Ông Cao Thanh Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh.
Ngày 20/01/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 185/2024/TLST- HNGĐ, ngày 16/10/2024 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình – ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 628/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/12/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2025/QĐST-HNGĐ ngày 03/01/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Phạm Thị X, sinh năm 1986;
Địa chỉ: Số nhà A, Tổ B, Ấp N, xã MT, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Lê Minh K, sinh năm 1985;
Địa chỉ: Số nhà A, Tổ B, Ấp N, xã MT, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
(Bà X có mặt tại phiên tòa, ông K vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà Phạm Thị X trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà X và ông Lê Minh K quen biết nhau, tìm hiểu và kết hôn năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã MT, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 20/3/2012.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu. Đến đầu năm 2019, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống. Tuy vợ chồng còn sống chung nhà nhưng khoảng một năm nay vợ chồng không còn tình cảm, mỗi người có cuộc sống riêng, không còn quan tâm nhau. Bà X nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống vợ chồng không thể kéo dài và không thể hàn gắn được. Nay bà X yêu cầu được ly hôn với ông Lê Minh K.
Về con chung: Bà Phạm Thị X và ông Lê Minh K có 01 con chung tên Lê Minh T, sinh ngày 19/01/2013. Hiện nay con chung đang sống chung với bà X, ông K. Sau khi ly hôn, bà X yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung.
Tại đơn khởi kiện, bà X yêu cầu ông Lê Minh K cấp dưỡng nuôi con chung, với mức cấp dưỡng là 4.000.000 đồng/tháng kể từ khi có bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Tại phiên tòa, bà X không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với ông Lê Minh K, ông K không có văn bản trình bày ý kiến về nội dung vụ án, không cung cấp tài liệu chứng cứ liên quan đến vụ án, vắng mặt tại Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án không lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện của bà Phạm Thị X và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về hôn nhân và gia đình - ly hôn, nuôi con. Bị đơn ông Lê Minh K có địa chỉ tại xã MT, thành phố Cao Lãnh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Lê Minh K nhưng ông K không có mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Lê Minh K theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Xét quan hệ hôn nhân của bà Phạm Thị X và ông Lê Minh K được xác lập vào năm 2011, do hai ông bà tự nguyện và thừa nhận, ông bà có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã MT, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 20/3/2012 nên quan hệ hôn nhân của ông bà là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Tại phiên tòa, bà X yêu cầu được ly hôn với ông K; ông K không có ý kiến về quan hệ hôn nhân. Hội đồng xét xử xét thấy: Bà X và ông K đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng có hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà X là phù hợp với Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình, bà X được ly hôn với ông K.
Về con chung: Bà Phạm Thị X và ông Lê Minh K có 01 con chung tên Lê Minh T, sinh ngày 19/01/2013, hiện nay con chung đang sống chung với bà X. Tại phiên tòa, bà X yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Hội đồng xét xử xét thấy con chung đã được bà X chăm sóc ổn định và phát triển tốt nên tiếp tục giao con chung cho bà X nuôi là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà X, giao con chung tên Lê Minh T, sinh ngày 19/01/2013 cho bà X tiếp tục nuôi là có căn cứ.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Bà Phạm Thị X trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết; ông K vắng mặt nên không có ý kiến về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Án phí: Bà Phạm Thị X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị X, bà Phạm Thị X được ly hôn với ông Lê Minh K.
[2] Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị X.
Giao con chung tên Lê Minh T, sinh ngày 19/01/2013 cho bà X tiếp tục nuôi, hiện con chung đang sống với bà X.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
[3] Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí: Bà Phạm Thị X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012870 ngày 07/10/2024 của Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, như vậy bà X đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết hoặc nhận được bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ĐT; - VKSND TPCL; - Chi cục THADS TPCL; - UBND MT, TPCL (số 38/2012, ngày 20/3/2012); - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ ….…………………………. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Cẩm Trinh THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA NGUYỄN THỊ CẨM TRINH |