vanban.org

Bản án 05/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Oanh K

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Oanh K được ly hôn anh Huỳnh Văn S. Về con chung: Giao hai con chung Huỳnh Nguyễn Hữu Ph, sinh ngày 09/10/2018 và Huỳnh Nguyễn Ngọc Tr, sinh ngày 08/6/2020 cho chị K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "K- S"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Oanh K
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 – QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/HNGĐ- ST
Ngày: 16/7/2025
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Vân.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Bùi Thị Cẩm;

2/ Ông Phạm Hòa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Lệ Quân là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Trần Phương Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 16/7/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 – Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 183/2024/TLST- HNGĐ, ngày 20 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2025/QĐXXST - HNGĐ, ngày 04/6/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 40/2025/QĐST- HNGĐ, ngày 27/6/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 6 – Quảng Ngãi); giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Oanh K, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn Phước Lợi, xã Ng, tỉnh Quảng Ngãi.

- Bị đơn: Anh Huỳnh Văn S, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ dân phố Thủy Triều, phường Tr, tỉnh Quảng Ngãi.

(Nguyên đơn có Đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/12/2024 và các lời khai tại Tòa nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Oanh K trình bày: Chị và anh Huỳnh Văn S tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Ph, thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi vào năm 2018. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị vào Thành phố Hồ Chí Minh làm ăn, sinh sống; thời gian đầu anh chị sống rất hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân là do anh S hay uống rượu, sống không có trách nhiệm với gia đình, anh S thường có những lời lẽ xúc phạm, lăng mạ và đánh đập chị, mâu thuẫn ngày một lớn, nên chị mang con về nhà mẹ đẻ ở xã Phổ Nhơn tá túc và tự nuôi con gần hai năm nay, anh S không quan tâm gì đến vợ con. Nay, tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Huỳnh Văn S.

Về con chung: Chị K trình bày trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng chị có hai con chung Huỳnh Nguyễn Hữu Ph, sinh ngày 09/10/2018 và Huỳnh Nguyễn Ngọc Tr, sinh ngày 08/6/2020, hiện nay chị đang nuôi con, khi ly hôn chị yêu cầu Tòa án giao con cho chị nuôi và yêu cầu anh S phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, mỗi con mỗi tháng 1.500.000đồng cho đến khi hai con đủ 18 tuổi

Về tài sản chung và nợ chung: Chị K trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Huỳnh Văn S: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh S nhưng anh S không đến Tòa, không trình bày ý kiến.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật; nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo đúng quy định của pháp luật; riêng bị đơn thực hiện không đúng quy định pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị HĐXX cho chị K được ly hôn anh S; về con chung: Giao hai con chung Huỳnh Nguyễn Hữu Ph, sinh ngày 09/10/2018 và Huỳnh Nguyễn Ngọc Tr, sinh ngày 08/6/2020 cho chị K trực tiếp nuôi dưỡng; chấp nhận yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị K, buộc anh S phải cấp dưỡng cho con, mỗi con mỗi tháng 1.500.000đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi; về tài sản chung, nợ chung: Không có. Chị K phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền: Chị Nguyễn Thị Oanh K khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Huỳnh Văn S; cư trú tại: Tổ dân phố Thủy Triều, phường Ph, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi (Nay là Tổ dân phố Thủy Triều, phường Tr, tỉnh Quảng Ngãi). Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 6 – Quảng Ngãi)

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn là anh Huỳnh Văn S các văn bản tố tụng gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 175 và Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự. Mặc dù, anh S biết Tòa án đang giải quyết vụ án ly hôn mà anh là bị đơn nhưng anh vắng mặt và không thực hiện nghĩa vụ chứng minh. Anh S phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Oanh K có Đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn anh Huỳnh Văn S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Oanh K và anh Huỳnh Văn S kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Phổ Văn, thị xã Đức Phổ (Nay là phường Tr) vào năm 2018. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị K và anh S là hợp pháp.

Nguyên nhân mâu thuẫn: Chị Kiều cho rằng, cuộc sống hôn nhân không mang lại hạnh phúc cho anh, chị do bất đồng quan điểm sống dẫn đến giữa anh chị thường xuyên cãi vả, anh S không quan tâm đến gia đình, vợ con, anh S còn đánh đập chị. Chị K yêu cầu ly hôn nhưng anh S không đến Tòa và không có ý kiến gì, có ý bỏ mặc. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân của chị K và anh S đã trở nên trầm trọng, kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị K là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được HĐXX chấp nhận.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị K và anh S có hai con chung Huỳnh Nguyễn Hữu Ph, sinh ngày 09/10/2018 và Huỳnh Nguyễn Ngọc Tr, sinh ngày 08/6/2020. Khi ly hôn, chị K yêu cầu được nuôi cả hai con và yêu cầu anh S phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, mỗi con mỗi tháng 1.500.000đồng cho đến khi hai con đủ 18 tuổi.

HĐXX xét thấy: Chị K đang nuôi con ổn định; trong khi đó, anh S không có ý kiến về phần con chung. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình cần giao hai con chung Huỳnh Nguyễn Hữu Ph, sinh ngày 09/10/2018 và Huỳnh Nguyễn Ngọc Tr, sinh ngày 08/6/2020 cho chị Kiều tiếp tục nuôi dưỡng là hợp pháp và hợp lý.

Về yêu cầu cấp dưỡng cho con: Căn cứ vào khoản 2 Điều 82, khoản 1 Điều 107, Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con…” Do đó, anh S phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con là phù hợp. Về phương thức cấp dưỡng mà chị K yêu cầu cấp dưỡng định kỳ hàng tháng là hoàn toàn phù hợp theo quy định tại Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình. Về mức cấp dưỡng: Do các bên không thoả thuận được mức cấp dưỡng nên Tòa án quyết định mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng “Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con”. Do đó, mức cấp dưỡng mà chị K yêu cầu anh S cấp dưỡng cho các con là phù hợp, mặc dù, chị Kiều không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh thu nhập trung bình mỗi tháng của anh S là bao nhiêu nhưng tại thời điểm xét xử thì tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng là anh S đang cư trú (phường Trà Câu, tỉnh Quảng Ngãi) là 3.450.000đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử buộc anh S phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con Huỳnh Nguyễn Hữu Ph, sinh ngày 09/10/2018 mỗi tháng 1.500.000đồng và Huỳnh Nguyễn Ngọc Tr, sinh ngày 08/6/2020 mỗi tháng 1.500.000đồng. Thời gian thực hiện việc cấp dưỡng tính từ ngày 16/7/2025 (ngày xét xử sơ thẩm) cho đến khi các con (Ph, Tr) đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị K trình bày không có, không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Vì vậy, căn cứ vào Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 6, Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, chị K phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Anh Huỳnh Văn S phải chịu án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng)

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39; các Điều 227, 228, 235, 238, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 110, 116, 117 và Điều 118 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 147 BLTTDS; Điều 6, Khoản 5 và Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Oanh K

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Oanh K được ly hôn anh Huỳnh Văn S.

2. Về con chung: Giao hai con chung Huỳnh Nguyễn Hữu Ph, sinh ngày 09/10/2018 và Huỳnh Nguyễn Ngọc Tr, sinh ngày 08/6/2020 cho chị K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Về cấp dưỡng cho con: Buộc anh Huỳnh Văn S phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con Huỳnh Nguyễn Hữu Ph, sinh ngày 09/10/2018 mỗi tháng 1.500.000đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) và Huỳnh Nguyễn Ngọc Tr, sinh ngày 08/6/2020 mỗi tháng 1.500.000đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Thời gian thực hiện việc cấp dưỡng tính từ ngày 16/7/2025 (ngày xét xử sơ thẩm) cho đến khi các con (Ph, Tr) đủ 18 tuổi.

Anh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu nên HĐXX không giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Oanh K phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Kiều đã nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004715 ngày 22/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi (nay là Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 6 – Quảng Ngãi) nên được khấu trừ xong.

Anh Huỳnh Văn S phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Quảng Ngãi;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- THADS tỉnh Quảng Ngãi;

- VKSND khu vực 6 – Quảng Ngãi;

- UBND phường Trà Câu;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Nguyễn Thị Bích Vân

Các thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ