vanban.org

Bản án 05/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị N.

Cho chị Vũ Thị N được ly hôn anh Vũ Hồng Q. Buộc chị Vũ Thị N phải nộp 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí mà chị N đã nộp theo biên lai số 0004402 ngày 05/6/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiên Yên (nay là phòng THADS số 4-tỉnh Quảng Ninh…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị N.
  • Căn cứ chính? Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - QUẢNG NINH
——————————
Bản án số: 05/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 12 - 8 - 2025.
V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Nguyễn Duy Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: bà Bùi Thị Qua và ông Nguyễn Quang Đạc.

- Thư ký phiên toà: bà Hoàng Quỳnh Anh - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 4-Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Quảng Ninh tham gia phiên toà: ông Đặng Quang Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 4, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 18/2025/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2025 về việc Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Vũ Thị N - có mặt. Nơi cư trú: thôn Bản Pạt, xã Lục Hồn, tỉnh Quảng Ninh.

- Bị đơn: anh Vũ Hồng Q - có đơn xin xét xử vắng mặt. Nơi cư trú: phố Thống Nhất, xã Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh. Hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam Thanh Phong, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và lời khai của nguyên đơn chị Vũ Thị N trình bày: chị N và anh Vũ Hồng Q đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Tiên Yên vào năm 2020. Sau khi kết hôn thì chị N vẫn ở nhà tại huyện Bình Liêu còn anh Q ở tại huyện Tiên Yên, năm 2022 thì anh Q phạm tội và phải đi chấp hành án phạt tù từ đó 02 vợ chồng không quan tâm đến nhau nữa. Nay chị N không còn tình cảm với anh Q nên yêu cầu được ly hôn anh Q.

Về con chung: vợ chồng không có con chung.

Về tài sản chung: chị N không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn anh Vũ Hồng Q có lời khai trình bày: về điều kiện hoàn cảnh kết hôn như chị N trình bày là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận bình thường, đến năm 2022 anh Q vi phạm pháp luật và phải đi chấp hành án phạt tù thì tình cảm vợ chồng nhạt dần. Nay chị N xin ly hôn nhưng anh Q mong muốn vợ chồng đoàn tụ, nếu chị N cương quyết xin ly hôn thì anh Q đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung: anh Q và chị N không có con chung.

Về tài sản chung: anh Q không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà có quan điểm: về tố tụng đã đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung xét thấy chị N và anh Q không thể tiếp tục chung sống, hơn nữa chị N và anh Q cũng đã nhiều năm không quan tâm đến nhau nên cho chị N và anh Q được ly hôn. Con chung không có, tài sản chung các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đề cập.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

[1] Về tố tụng: vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khu vực 4 theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 về sửa đổi một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự; Anh Q có đơn xin xét xử vắng mặt và thể hiện rõ quan điểm về việc giải quyết vụ án, do đó theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử.

[2] Về tình cảm: trong quá trình giải quyết vụ án chị N và anh Q đều xác định vợ chồng đã không quan tâm đến nhau từ năm 2022 khi anh Q phải đi chấp hành án phạt tù. Xét lời trình bày của chị N, anh Q, xác minh tại chính quyền địa phương thì thấy rằng mặc dù anh Q mong muốn vợ chồng về đoàn tụ nhưng anh Q đang phải chấp hành án phạt tù nên không có biện pháp gì để cải thiện mối quan hệ vợ chồng, chị N thì cương quyết xin ly hôn vì không còn tình cảm nên không quan tâm gì đến anh Q, thấy rằng thực tế mâu thuẫn vợ chồng giữa chị N và anh Q đã ở mức độ trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cho chị N và anh Q được ly hôn là phù hợp.

[3] Về con chung: chị N và anh Q không có con chung nên không đề cập giải quyết.

[4] Về tài sản chung: chị N và anh Q không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[5] Về án phí: chị N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị N.

Cho chị Vũ Thị N được ly hôn anh Vũ Hồng Q.

Căn cứ: khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về án phí.

Buộc chị Vũ Thị N phải nộp 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí mà chị N đã nộp theo biên lai số 0004402 ngày 05/6/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiên Yên (nay là phòng THADS số 4-tỉnh Quảng Ninh).

Căn cứ Điều 271, 273 – Bộ luật tố tụng dân sự.

Báo cho chị N biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với anh Q vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ