vanban.org

Bản án 05/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Kim C. Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Kim C được ly hôn ông Triệu Phúc H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Đỗ Kim C yêu cầu giải quyết ly hôn ông Triệu Phúc H"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05 /2025/HNGĐ-ST
Ngày: 12/8/2025
“V/v: Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Huyền Diệu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Minh Thành

2. Bà Cao Thị Hồng Châu

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân khu vực 3 – Đắk Lắk

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thu Thủy – Kiểm sát viên

Ngày 12 tháng 8 năm 2025 tại Toà án nhân dân Khu vực 3 – Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 170/2025/TLST - HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Đỗ Kim C, sinh năm 2005 – Có đơn xét xử vắng mặt

Trú tại: Thôn H, xã E, tỉnh ĐắkLắk

2. Bị đơn: Ông Triệu Phúc H, sinh năm 2001- Vắng mặt

Trú tại: Thôn H, xã E, tỉnh ĐắkLắk

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên bà Đỗ Kim C trình bày:

Bà và ông Triệu Phúc H quen biết tìm hiểu được khoảng 06 tháng thì tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã EaMdroh, huyện CưMgar, tỉnh Đắk Lắk ngày 05/10/2023, chung sống được một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, ôngh H hay uống rượu, có lời lẽ xúc phạm vợ, không quan tâm con cái, chăm lo cho gia đình. Từ tháng 12/2024 cho đến nay vợ chồng không chung sống với nhau nữa, bà C một mình nuôi con. Nay xét thấy vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không thể đoàn tụ chung sống, bà C đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn ông Triệu Phúc H.

Về con chung:Trong thời kỳ hôn nhân bà C và ông H có một con chung là cháu Triệu Kim C1, sinh ngày 24/10/2023. Nguyện vọng của bà C xin được nuôi con chung, không yêu cầu ông H phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Tài sản chung, về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.

Đối với Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn không thực hiện đúng và đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Đỗ Kim C. Bà Đỗ Kim C được ly hôn ông Triệu Phúc H.

Về con chung: Chấp nhận nguyện vọng của bà Đỗ Kim C, giao cháu Triệu Kim C1, sinh ngày 24/10/2023 cho bà Đỗ Kim C trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Đỗ Kim C không yêu cầu ông Triệu Phúc H phải cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị HĐXX không đặt ra để giải quyết.

Án phí: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Bà Đỗ Kim C yêu cầu được ly hôn, giải quyết nuôi con chung với ông Triệu Phúc H nên quan hệ pháp luật trong vụ án là ly hôn, tranh chấp nuôi con chung. Trong quá trình tố tụng ông Triệu Phúc H có địa chỉ cư trú tại xã E, huyện B, tỉnh Đăk Lăk (nay là xã E, tỉnh Đắk Lắk). Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Đắk Lắk.

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Kim C và ông Triệu Phúc H tự nguyện chung sống từ năm 2023, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã EaM’droh, huyện CưMgar, tỉnh Đắk Lắk ngày 05/10/2023, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Bà C và ông H trong quá trình chung sống đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do không hợp tính nhau, bất đồng quan điểm sống. Từ tháng 12/2024 đến nay bà C và ông H không chung sống với nhau nữa. Như vậy, hôn nhân của bà C và ông H lâm vào tình trạng trầm trọng, vợ chồng không thể đoàn tụ chung sống, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận đơn ly hôn của nguyên đơn bà Đỗ Kim C, cho bà Đỗ Kim C ly hôn với ông Triệu Phúc H.

. Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân bà Đỗ Kim C và ông Triệu Phúc H có 01 con chung là cháu Triệu Kim C1, sinh ngày 24/10/2023 đang do bà Đỗ Kim C trực tiếp nuôi dưỡng. Trên cơ sở nguyện vọng của bà C, cần giao con chung cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 của luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng: Bà Đỗ Kim C không yêu cầu ông Triệu Phúc H phải cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không đề cập xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

.Về án phí: Bà Đỗ Kim C phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 228 Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Kim C.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Kim C được ly hôn ông Triệu Phúc H.

Về con chung: Giao cháu Triệu Kim C1, sinh ngày 24/10/2023 cho bà Đỗ Kim C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.

Ông Triệu Phúc H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Vì lợi ích của con chưa thành niên, theo yêu cầu của một hoặc hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

Về án phí: Bà Đỗ Kim C phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004810 ngày 17/4/2025 tại C cục Thi hành án dân sự huyện Cư M’gar.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ