- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và nuôi con"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và L phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2025/HNGĐ-ST Ngày 19 tháng 8 năm 2025 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trung Kiên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bành Trọng Bình và bà Nguyễn Thị Hồng
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đức Nguyên Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2, tỉnh Đắk Lắk.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 tham gia phiên tòa: Ông Trần Dương Công – Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 81/2025/TLST-DS ngày 24 tháng 02 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST–HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2025/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn chị Mạc Thị L, sinh năm 1991 (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn B, xã L (Nay là xã E), tỉnh Đắk Lắk
Bị đơn anh Trần Văn T, Sinh năm: 1981 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn B, xã L (Nay là xã E), tỉnh Đắk Lắk
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, Bản tự khai, Biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Mạc Thị L trình bày:
Chị và anh Trần Văn T đến chung sống với nhau vào năm 2009 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện có đăng kí kết hôn tại UBND xã Th, huyện L, tỉnh Lâm Đồng (Nay là xã P, tỉnh Lâm Đồng) vào ngày 05 tháng 6 năm 2009.
Thời gian đầu chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc không có điều tiếng gì. Mâu thuẫn bắt đầu phát sinh từ năm 2011 nguyên nhân vì: Anh T hay đi uống rượu về nhà thì chửi chị, chị bức xúc có nói lại dẫn đến vợ chồng xảy xung đột, cãi vã lẫn nhau; ngoài ra anh T hay tham gia cờ bạc không quan tâm đến gia đình, chị đã cố gắng nhẫn chịu để vợ chồng cùng nhau nuôi dậy con, nhưng hiện nay tình cảm vợ chồng không thể níu kéo được nữa. Hiện tại chị và anh T đã ly thân và không chung sống với nhau từ tết 2025 cho đến nay. Do vậy, nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mẫu thuẫn đã đến mức nghiêm trọng, nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
Về con chung: Chị và anh T có 02 con chung là cháu Trần Thị Bích D, sinh ngày 27/01/2010 và cháu Trần Quốc D, sinh ngày 31/10/2011. Khi ly hôn chị xin nhận nuôi cháu Trần Thị Bích D và đồng ý để anh T nuôi cháu Trần Quốc D cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Các bên đều không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn là anh Trần Văn T đến Tòa án để làm việc, nhưng anh T đều vắng mặt. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng anh T không chấp hành, không hợp tác, không cung cấp tài liệu, chứng cứ và không gửi văn bản ghi quan điểm của anh về các nội dung liên quan đến vụ án. Tòa án mở phiên họp công khai chứng cứ và hoà giải nhưng anh T vắng mặt không có lý do. Tòa án triệu tập hợp L hai lần anh T đến phiên tòa nhưng anh đều không có mặt tại phiên tòa.
Tại biên bản xác minh ngày 23 tháng 4 năm 2025 đối với ông Đinh Lục Hồng Q là thôn trưởng thôn B, xã L (nay là xã E) và biên bản xác minh ngày 27 tháng 4 năm 2025 đối với bà Nông Thị V là hội trưởng hội phụ nữ thôn B, xã L (nay là xã E) thể hiện: Trong cuộc sống hàng ngày vợ chồng chị L anh T hay xảy ra mâu thuẫn, cãi vã lẫn nhau, anh T có vài lần đánh chị L, nên chị L có báo cho hội phụ nữ thôn đến hòa giải, nhưng sau đó một thời gian vợ chồng chị L lại xảy ra mâu thuẫn, sau đó chị L về nhà mẹ đẻ để ở.
Ý kiến của kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định pháp luật; Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Mạc Thị L được ly hôn với anh Trần Văn T.
Về con chung đề nghị giao cháu Trần Thị Bích D, sinh ngày 27/01/2010 cho chị Mạc Thị L và giao cháu Trần Quốc D, sinh ngày 31/10/2011 cho anh Trần Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, chị L và anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Về tài sản chung và công nợ: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án; Ý kiến của Kiểm sát viên, của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Mạc Thị L có đơn khởi kiện xin được ly hôn, nuôi con chung giữa chị với anh Trần Văn T, địa chỉ tại Thôn B, xã L (Nay là xã E), tỉnh Đắk Lắk. Vì vậy, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2, tỉnh Đắk Lắk theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh T nhưng anh T đều vắng mặt, tại phiên tòa, anh T vắng mặt lần thứ hai, không phải vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan, nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, điểm b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh T.
Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh T chung sống với nhau vào năm 2009 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện có đăng kí kết hôn tại UBND xã Th, huyện L, tỉnh Lâm Đồng (Nay là xã P, tỉnh Lâm Đồng) vào ngày 05 tháng 6 năm 2009, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, phù hợp theo quy định tại Điều 8 và 9 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Trong thời gian chung sống vợ chồng anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh T ham chơi cờ bạc, không chăm lo cho gia đình, từ đó dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng thường xảy ra cãi vã, anh T còn nhiều lần đánh chị L, tình cảm vợ chồng rạn nứt, không thể hàn gắn, vợ chồng đã sống ly thân nhau từ đầu năm 2025 đến nay. Do vậy, xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận xử cho chị L được ly hôn với anh T là phù hợp.
Về con chung: Chị L và anh T có 02 con chung là cháu Trần Thị Bích D, sinh ngày 27/01/2010 và cháu Trần Quốc D, sinh ngày 31/10/2011. Xét thấy để đảm bảo sự phát triển ổn định của các cháu, cũng như ý kiến của chị L và nguyện vọng của các cháu, nên cần giao cháu Trần Thị Bích D, sinh ngày 27/01/2010 cho chị Mạc Thị L và giao cháu Trần Quốc D, sinh ngày 31/10/2011 cho anh Trần Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, .
Về cấp dưỡng nuôi con: Các bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và công nợ: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về án phí: Chị Mạc Thị L phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; 235; điểm b khoản 2 Điều 227; điểm b khoản 1 Điều 238; Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự;
Điều 51; 56; 57; 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và L phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Mạc Thị L đối với anh Trần Văn T về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
[1] Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Mạc Thị L được ly hôn với anh Trần Văn T.
Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
[2] Về con chung: Giao cháu Trần Thị Bích D, sinh ngày 27/01/2010 cho chị Mạc Thị L và giao cháu Trần Quốc D, sinh ngày 31/10/2011 cho anh Trần Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
Bên không trực tiếp nuôi con mà lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bên nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của bên còn lại.
Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên khác trong gia đình không được cản trở bên không nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Mạc Thị L và anh Trần Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
[4] Về tài sản chung và công nợ: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
[5] Về án phí: Chị Mạc Thị L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp, theo biên lai thu số 0003784 ngày 19 tháng 02 năm 2025 tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Ea Súp nay là Phòng thi hành án khu vực 2.
[6] Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKS khu vực 2; - Tòa án tỉnh; - Phòng THA khu vực 2; - UBND xã Ea Bung, Đắk Lắk - Lưu hồ sơ vụ án. | (Đã ký) Phạm Trung Kiên |