vanban.org

Bản án 05/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Ngọc H và anh Hồ Minh K.

Về con chung: 1 Giao cháu Hồ Nguyễn Khang D, sinh ngày 03/10/2016 và cháu Hồ Nguyễn Bích T, sinh ngày 24/01/2019 cho chị Nguyễn Ngọc H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Ngọc H và anh Hồ Minh K.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH LỢI
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 20 - 01 - 2025
V/v ly hôn, tranh chấp
về nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỢI, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Xuyến

Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Đào Văn Vĩnh

2. Ông Phạm Văn Sáu

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Văn Trường, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Châu Ngọc Hạnh, Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 230/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2024 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 18/6/1997. Đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp Đ, xã H, huyện V, tỉnh Bạc Liêu; chỗ ở hiện nay: Ấp T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Bạc Liêu (Có đơn xin vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Hồ Minh K, sinh ngày 28/9/1990. Địa chỉ: Ấp Đ, xã H, huyện V, tỉnh Bạc Liêu (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc H và bị đơn anh Hồ Minh K thống nhất xác định: Chị H và anh K quen biết, tìm hiểu nhau, sau đó tự nguyện chung sống với nhau và có tổ chức lễ cưới theo tập quán địa phương vào năm 2015. Ngày 03/02/2017, chị H và anh K đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã H, huyện V, tỉnh Bạc Liêu cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 07/2017. Chị H và anh K chung sống có 02 người con chung là cháu Hồ Nguyễn Khang D, sinh ngày 03/10/2016 và cháu Hồ Nguyễn Bích T, sinh ngày 24/01/2019, ngoài ra không còn người con nào khác; hiện nay, cháu D và cháu T đang sống chung với gia đình của chị H. Chị H và anh K chung sống không tạo lập được tài sản chung và không có vay, mượn tiền, tài sản của bất kỳ cá nhân, cơ quan, tổ chức tín dụng hoặc Ngân hàng nào nên không có tài sản chung và nợ chung.

Từ tháng 6 năm 2024, do tính tình không hòa hợp, quan điểm sống khác nhau, phát sinh mâu thuẫn, cự cãi nhau về chuyện tình cảm và vấn đề tiền bạc; giữa chị H và anh K không tìm được tiếng nói chung, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên chị H và anh K đã tự chấm dứt quan hệ chung sống và sống ly thân với nhau từ giữa tháng 9 năm 2024 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, chị H và anh K không có biện pháp gì để hàn gắn quan hệ vợ chồng.

Tại Đơn khởi kiện đề ngày 13 tháng 9 năm 2024 và Biên bản lấy lời khai ngày 14 tháng 11 năm 2024, nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc H trình bày: Chị H yêu cầu được ly hôn với anh K; yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu D, sinh ngày 03/10/2016 và cháu T, sinh ngày 24/01/2019 và yêu cầu anh K cấp đưỡng nuôi con chung mỗi cháu là 2.000.000 đồng/tháng, kể từ ngày Tòa án giải quyết cho chị H và anh K ly hôn đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Về tài sản chung và nợ chung, chị H xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, chị H không có yêu cầu gì khác và cũng không trình bày gì thêm.

Ngày 26 tháng 12 năm 2024, chị H có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về yêu cầu cấp dưỡng, chị H không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 26 tháng 12 năm 2024, bị đơn anh Hồ Minh K trình bày: Anh K đồng ý ly hôn theo yêu cầu ly hôn của chị H, không yêu cầu được đoàn tụ. Anh K đồng ý giao cháu D, sinh ngày 03/10/2016 và cháu T, sinh ngày 24/01/2019 cho chị H nuôi dưỡng và anh K không phải cấp dưỡng nuôi con, nhưng trong khả năng của anh K có nhiều sẽ cho con nhiều, có ít sẽ cho con ít. Về tài sản chung và nợ chung anh K xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, anh K không có yêu cầu gì khác và cũng không trình bày gì thêm.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và quan điểm giải quyết vụ án như sau:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; riêng bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55, các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình. Về hôn nhân, công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị H và anh K. Về con chung, giao cháu D, sinh ngày 03/10/2016 và cháu T, sinh ngày 24/01/2019 cho chị H được tiếp tục trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; chấp nhận yêu cầu rút một phần yêu cầu khởi kiện của chị H đối với anh K về việc yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con và đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của chị H đối với anh K về việc cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung, chị H và Anh K không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết. Đương sự phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Chị H yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh K và hiện nay anh K cư trú tại ấp Đ, xã H, huyện V, tỉnh Bạc Liêu nên Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh K đã được triệu tập hợp lệ để hòa giải nhưng vắng mặt không rõ lý do nên vụ án không tiến hành hòa giải được, phải đưa ra xét xử. Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu đã triệu tập anh K đến Tòa án để xét xử hợp lệ lần thứ hai, nhưng tại phiên tòa hôm nay anh K vẫn vắng mặt không rõ lý do và chị H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị H và anh K.

Về nội dung:

Chị H và anh K tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã H, huyện V, tỉnh Bạc Liêu cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 07/2017 ngày 03/02/2017 nên hôn nhân giữa chị H và anh K là hợp pháp, được pháp luật công nhận.

Về hôn nhân: Chị H yêu cầu được ly hôn với anh K và anh K cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị H, không yêu cầu đoàn tụ. Hội đồng xét xử xét thấy, đây là sự tự nguyện thỏa thuận giữa chị H và anh K và sự tự nguyện thỏa thuận này không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên công nhận sự thuận tình ly hôn của chị H và anh K theo quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình và khoản 1 Điều 3 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị H yêu cầu được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả hai con chung là cháu D, sinh ngày 03/10/2016 và cháu T, sinh ngày 24/01/2019. Anh K đồng ý giao cháu D và cháu T cho chị H được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Tại Biên bản ghi nhận ý kiến ngày 12/12/2024, cháu D có nguyện vọng được sống với chị H. Xét thấy, việc chị H và anh K thống nhất giao cháu D và cháu T cho chị H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với nguyện vọng của cháu D và đảm bảo duy trì cuộc sống ổn định của cháu D và cháu T. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H, giao cháu D và cháu T cho chị H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị H đang trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu D và cháu T nên được tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu D và cháu T.

Anh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về cấp dưỡng: Tại đơn khởi kiện, chị H yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu là 2.000.000 đồng/tháng, kể từ ngày Tòa án giải quyết cho chị H và anh K ly hôn đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Tuy nhiên, vào ngày 26/12/2024, chị H có đơn yêu cầu rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con đối với anh K, chị H không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy việc rút một phần yêu cầu khởi kiện nêu trên của chị H là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên được chấp nhận và đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị H đối đối với anh K theo quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị H có quyền khởi kiện yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung trong vụ án khác theo quy định của pháp luật nếu có yêu cầu.

Chị H không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị H và anh K thống nhất xác định không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Do trước khi mở phiên tòa, chị H và anh K đã tự nguyện ly hôn, nên chị H và anh K mỗi người phải chịu 25% án phí dân sự không có giá ngạch theo quy định tại Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình. Do đó, chị H và anh K, mỗi người phải nộp 75.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu. Chị H đã nộp tạm ứng án phí 600.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004363 ngày 24/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu nên được chuyển thu án phí 75.000 đồng và được hoàn lại số tiền chênh lệch 525.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.

Các quan điểm đề xuất việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu tại phiên tòa, như đã phân tích, là có căn cứ nên chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55, các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội và tiểu mục 1.1 Phần II Mục A của Danh mục án phí, lệ phí Tòa án (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016); khoản 1 Điều 3 và Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

1. Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Ngọc H và anh Hồ Minh K.

2. Về con chung:

2.1 Giao cháu Hồ Nguyễn Khang D, sinh ngày 03/10/2016 và cháu Hồ Nguyễn Bích T, sinh ngày 24/01/2019 cho chị Nguyễn Ngọc H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

2.2. Chị Nguyễn Ngọc H đang trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Hồ Nguyễn Khang D, sinh ngày 03/10/2016 và cháu Hồ Nguyễn Bích T, sinh ngày 24/01/2019 nên được tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục Hồ Nguyễn Khang D, sinh ngày 03/10/2016 và cháu Hồ Nguyễn Bích T, sinh ngày 24/01/2019.

2.3. Anh Hồ Minh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.

2.4. Về cấp dưỡng: Chấp nhận yêu cầu rút một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc H đối với anh Hồ Minh K về việc yêu cầu anh Hồ Minh K cấp dưỡng nuôi con chung.

Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc H đối với anh Hồ Minh K về việc yêu cầu anh Hồ Minh K cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Nguyễn Ngọc H không yêu cầu anh Hồ Minh K cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra giải quyết.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch, chị Nguyễn Ngọc H và anh Hồ Minh K, mỗi người phải nộp 75.000 đồng (Bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình. Chị Nguyễn Ngọc H đã nộp tạm ứng án phí 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004363 ngày 24/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu nên được chuyển thu án phí 75.000 đồng (Bảy mươi lăm nghìn đồng) và được hoàn lại số tiền chênh lệch 525.000 đồng (Năm trăm hai mươi lăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu.

5. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời gian 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ