vanban.org

Bản án 05/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thúy Á được ly hôn với ông Ngô Đức H.

Về con chung: Giao con chung tên Ngô Ái V, sinh ngày 09 tháng 6 năm 2014, cho bà Nguyễn Thúy Á trực tiếp nuôi dưỡng. Ông H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Bà Á không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà A yêu cầu ly hôn với ông H"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thúy Á được ly hôn với ông Ngô Đức H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN U
TỈNH C

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/HNGĐ-ST
Ngày 10-01-2025
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U, TỈNH C

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Việt Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Xuân Vĩnh;

Ông Trịnh Hữu Hiệp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Như Ý, Thư ký Tòa án nhân dân huyện U, tỉnh C.

Ngày 10 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U, tỉnh C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 421/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 197/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thúy Á, sinh năm: 1993 (Có mặt).

Địa chỉ: Ấp 8, xã N, huyện U, tỉnh C.

Cư trú: ấp 7, xã N, huyện U, tỉnh C.

- Bị đơn: Ông Ngô Đức H, sinh năm: 1989 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp H, xã N, huyện U, tỉnh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 19 tháng 11 năm 2024 và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thúy Á trình bày: Năm 2012, được sự đồng ý của hai gia đình tổ chức đám cưới nên bà với ông H tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện U, tỉnh C. Vợ chồng chung sống hạnh phúc và có 01 con chung. Nhưng thời gian gần đây thì vợ chồng luôn xảy ra mâu thuẫn do bất đồng ý kiến trong sinh hoạt hàng ngày. Ông H ghen tuông vô cớ, kiểm soát không cho bà giao lưu đi đám, đi tiệc và có lời lẽ xúc phạm bà và gia đình bà. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt và trầm trọng không thể hàn gắn được. Vợ chồng đã không còn chung sống với nhau từ bà nộp đơn khởi kiện đến nay, ông H cũng không quan tâm, thăm nom bà và con. Bà nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên yêu cầu ly hôn với ông Ngô Đức H. Về con chung: có 01 con chung tên Ngô Ái V, sinh ngày 09/6/2014, hiện con đang chung sống với bà. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu ông H cấp dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại đơn trình bày ý kiến ngày 09/12/2024 Ngô Ái V trình bày: cha mẹ ly hôn con có nguyện vọng sống với mẹ.

- Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng không có văn bản có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn, vắng mặt tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Tranh chấp giữa bà Nguyễn Thúy Á và ông Ngô Đức H được xác định là tranh chấp hôn nhân gia đình về việc ly hôn và thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện U, tỉnh C theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông H.

Về nội dung:

Xét thấy, bà Nguyễn Thúy Á và ông Ngô Đức H tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn theo quy định nên quan hệ hôn nhân của bà Nguyễn Thúy Á và ông Ngô Đức H là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống giữa vợ chồng bà Nguyễn Thúy Á và ông Ngô Đức H xảy ra mâu thuẫn, đối với yêu cầu của bà Á, ông H không có ý kiến. Bà Á xác định vợ chồng đã không tình cảm, không còn chung sống cùng nhau, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống cùng nhau và vẫn giữ yêu cầu ly hôn với ông H, điều này cho thấy, tình trạng hôn nhân giữa bà Á với ông H đã mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không có sự quan tâm lẫn nhau, vợ chồng đã không còn chung sống với nhau, mục đích hôn nhân không đạt, vì vậy, bà Á yêu cầu ly hôn ông H là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về con chung tên Ngô Ái V, sinh ngày 09/6/2014, hiện do bà Á nuôi và bà Á có yêu cầu được nuôi con sau khi ly hôn. Ông H không có ý kiến về con chung. Xét thấy, con chung có nguyện vọng sống với mẹ và hiện do bà Á nuôi, để đảm bảo quyền lợi của con chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Á về nuôi con chung, giao con chung cho bà Á trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Á không yêu cầu ông H cấp dưỡng nên không xem xét. Ông H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét.

Án phí dân sự sơ thẩm bà Nguyễn Thúy Á phải chịu 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thúy Á được ly hôn với ông Ngô Đức H.

- Về con chung: Giao con chung tên Ngô Ái V, sinh ngày 09 tháng 6 năm 2014, cho bà Nguyễn Thúy Á trực tiếp nuôi dưỡng. Ông H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Bà Á không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét.

- Án phí dân sự sơ thẩm bà Nguyễn Thúy Á phải chịu 300.000 đồng. Bà Nguyễn Thúy Á đã nộp tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006831 ngày 19/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện U, tỉnh C chuyển thu án phí.

- Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ