vanban.org

Bản án 05/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị S được ly hôn với anh A ( Giấy chứng nhận kết hôn số: 83/2013; Quyển số: 01/2013 mang tên AMin - Siêr do Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai cấp ngày 22/11/2013).

Về con chung: Giao con chung là cháu S1 – Sinh ngày: 01/01/2012, cháu S2 – Sinh ngày: 07/5/2013 và cháu S3 – Sinh ngày: 06/01/2020 cho chị S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con khi con chưa thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "S"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị S được ly hôn với anh A ( Giấy chứng nhận kết hôn số: 83/2013; Quyển số: 01/2013 mang tên AMin - Siêr do Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai cấp ngày 22/11/2013).
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MANG YANG
TỈNH GIA LAI
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 24/4/2025
V/v “Ly hôn, tranh chấp
nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG YANG, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đại Dương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trung Kiên và bà Vũ Thị Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Dàng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thế Quang – Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 4 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 122/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số: 04/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị S – Sinh ngày: 01/01/1988

Địa chỉ: Làng Đ, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai (Có mặt)

Bị đơn: Anh AMin – Sinh ngày: 01/01/1991

Địa chỉ: Làng K, xã A, huyện M, tỉnh Gia Lai (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị S và anh A tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai cấp Giấy chứng nhận kết hôn số: 83/2013; Quyển số:01/2013 ngày 22/11/2013. Quá trình chung sống chị S và anh A M bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn không tìm được tiếng nói chung, không cùng quan điểm cách sống không hòa hợp, vợ chồng sống ly thân đã lâu. Gia đình hai bên đã nhiều lần khuyên bảo nhưng mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, hạnh phúc gia đình không thể kéo dài để cùng nuôi dưỡng con khôn lớn. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị S yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh A M.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống chị S và anh A có 03 người con chung là cháu S1 – Sinh ngày: 01/01/2012, cháu S2 – Sinh ngày: 07/5/2013 và cháu S3 – Sinh ngày: 06/01/2020. Chị S yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được nuôi dưỡng, chăm sóc cả 03 con chung là cháu S1, S2 và S3 mà không yêu cầu anh A phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Chị S không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Chị S và anh A không có nợ ai và không ai nợ chị S, anh A nên chị S không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn anh A, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng cho anh A gồm Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập làm việc, Thông báo về các phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Thông báo dời ngày xét xử. Tuy nhiên, anh A vẫn cố tình không đến làm việc và tham gia phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cũng như tham gia phiên tòa. Anh A cố tình không có ý kiến gì thể hiện chính kiến về giải quyết vụ án. Do đó, Tòa án căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh A M.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, các Điều 147, 228, 235, 238 và 264 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 và 85 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị S và cho chị S được ly hôn anh A.

- Về con chung: Giao cho chị S được nuôi dưỡng, chăm sóc cả 03 con chung là cháu S1 – Sinh ngày: 01/01/2012, cháu S2 – Sinh ngày: 07/5/2013 và cháu S3 – Sinh ngày: 06/01/2020.

- Về Cấp dưỡng nuôi con: Anh AMin không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Chị S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết

- Về nợ chung: Chị S và anh A không có nợ ai và không ai nợ chị S, anh A M. Do đó, chị S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết

- Về án phí: Chị S phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Nguyên đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Mang Yang xét xử vắng mặt các đương sự.

Về quan hệ hôn nhân và thẩm quyền giải quyết: Chị S và anh A có đăng ký theo quy định pháp luật vào ngày 22/11/2013. Điều này phù hợp với Giấy chứng nhận kết hôn số: 83/2013; Quyển số: 01/2013 do UBND xã Đ, huyện M cấp mà nguyên đơn đã giao nộp. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp. Quá trình thụ lý vụ án xác định anh A cư trú tại Làng K, xã A, huyện M, tỉnh Gia Lai. Cho nên, Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ tranh chấp về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai.

Về mâu thuẫn gia đình: Theo trình bày của nguyên đơn và xác nhận tại địa phương, nhận thấy trong quá trình chung sống, chị S và anh A có phát sinh mâu thuẫn. Hiện anh chị đã sống ly thân 4 năm, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Đối với anh A M, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần mà vẫn không đến tham gia phiên hòa giải cũng như phiên tòa, điều đó chứng tỏ anh A M không còn thiết tha với việc hàn gắn tình cảm gia đình. Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm giữa anh chị đã thực sự rạn nứt, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị S được ly hôn với anh A M theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Chị S và anh A có 03 người con chung là cháu S1 – Sinh ngày: 01/01/2012, cháu S2 – Sinh ngày: 07/5/2013 và cháu S3 – Sinh ngày: 06/01/2020. Theo nguyện vọng của các con S1, S2 và chị S yêu cầu sau khi ly hôn chị được Tòa án giao cả 03 con chung là cháu S1 – Sinh ngày: 01/01/2012, cháu S2 – Sinh ngày: 07/5/2013 và cháu S3 – Sinh ngày: 06/01/2020 cho chị trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục mà anh A không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung vì cả 03 con chung hiện đang ở với chị S, anh A đi làm ăn và ở nơi khác mà không có trách nhiệm nuôi con chung lâu nay. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung cho chị S trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc các con sau khi ly hôn.

Về tài sản chung: Không ai có yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Chị S xác định không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 266; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 và Điều 85 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị S được ly hôn với anh A ( Giấy chứng nhận kết hôn số: 83/2013; Quyển số: 01/2013 mang tên AMin - Siêr do Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai cấp ngày 22/11/2013).

2. Về con chung: Giao con chung là cháu S1 – Sinh ngày: 01/01/2012, cháu S2 – Sinh ngày: 07/5/2013 và cháu S3 – Sinh ngày: 06/01/2020 cho chị S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con khi con chưa thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

3 Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh AMin không phải có nghĩa vụ cấp dương nuôi con chung.

3. Về án phí: Chị S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số: 0012604 ngày 23 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. Chị L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về thời hạn kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24/4/2024), đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ