- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị T và Nguyễn Hoàng Thế P"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2025/HNGĐ-ST; Ngày: 06-01-2025; V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Xuân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Nghiệm.
Bà Nguyễn Thị Nhàn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Thanh Sang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện G.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G tham gia phiên tòa: Ông Trần Việt Tú, Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 235/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 83/2024/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện G, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Lê Thị T, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Ấp 2, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
2. Bị đơn: Nguyễn Hoàng Thế P, sinh năm 1973.
Địa chỉ: Ấp H, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
(Bà T xin vắng mặt và ông P vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn xin ly hôn và các lời trình bày tại tòa nguyên đơn bà Lê Thị T trình bày:
Bà và ông Nguyễn Hoàng Thế P sống chung vào năm 2000, do tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B. Sau khi cưới ông bà sống hạnh phúc đến đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống vợ chồng, vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên cự cãi, ông P nhậu nhẹt thường xuyên và đánh đập bà
- 2 -
thường xuyên mặc dù bà đã khuyên can ông P nhiều năm nay nhưng không khắc phục được dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Bà và ông P đã sống ly thân từ đầu năm 2024 đến nay. Nay xét thấy tình cảm không còn, đời sống vợ chồng không còn hạnh phúc và không thể hàn gắn lại được.
Về quan hệ tình cảm: Bà yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Hoàng Thế P.
Về con chung: Có 02 con tên Nguyễn Thị Ánh T1, sinh ngày 01/02/2001 và Nguyễn Thị Tuyết T2, sinh ngày 11/8/2007. Hiện cháu T1 đã trưởng thành, cháu T2 đang sống với bà, khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi cháu T2 và không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
* Bị đơn ông Nguyễn Hoàng Thế P mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông P vẫn vắng mặt và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T về xin ly hôn, về nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Nguyên đơn bà Lê Thị T yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Hoàng Thế P, yêu cầu nuôi con chung nên Hội đồng xét xử xác định đây là “Tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con” Tộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại địa P nên Tộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân huyện G theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét nguyên đơn bà Lê Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt và bị đơn ông Nguyễn Hoàng Thế P đã được triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt bà T và ông P.
Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tình cảm: Bà Lê Thị T và ông Nguyễn Hoàng Thế P sống chung năm 2000, do tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B là hôn
- 3 -
nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Bà T xin ly hôn với ông P với lý do bất đồng quan điểm trong cuộc sống vợ chồng, vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên cự cãi, ông P nhậu nhẹt thường xuyên và đánh đập bà thường xuyên mặc dù bà đã khuyên can ông P nhiều năm nay nhưng không khắc phục được dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, bà T và ông P đã sống ly thân từ đầu năm 2024 đến nay. Bà T xin vắng mặt và vẫn giữ yêu cầu ly hôn với ông P; phía ông P đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa cho thấy ông P không có thành ý cứu vãn cuộc hôn nhân giữa ông bà. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T và ông P không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin được ly hôn của bà Lê Thị T là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.
Về con chung: Xét yêu cầu nuôi cháu Nguyễn Thị Tuyết T2, sinh ngày 11/8/2007 của bà T. Hội đồng xét xử xét thấy cháu T2 hiện đang sống với bà T đã ổn định về chỗ ở, về điều kiện học hành, về tâm lý; đồng thời cháu Trân có nguyện vọng muốn được sống với bà T. Phía ông P không có văn bản ý kiến trình bày ý kiến về việc nuôi con chung cho thấy ông P đã từ bỏ quyền yêu cầu của mình. Do đó, Hội đồng xét xử giao cháu Trân cho bà T nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng không xem xét.
Về tài sản chung: Bà T khai không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Bà T khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bà Lê Thị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
Xét ý kiến và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân gia đình;
- 4 -
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T.
Về tình cảm: Bà Lê Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng Thế P.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Tuyết T2, sinh ngày 11/8/2007 cho bà Lê Thị T nuôi dưỡng cho đến khi cháu Trân đủ 18 tuổi, lao động được.
Ông Nguyễn Hoàng Thế P được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau khi ly hôn. Trường hợp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.
Về án phí: Bà Lê Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm; được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai T số 0009749 ngày 08/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G, do vậy bà T đã nộp xong án phí.
Báo nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa Tận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh - VKSND huyện G; - CQ thực hiện việc đăng ký kết hôn; - THADS huyện G; - Các đương sự; - Lưu án văn; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Võ Thị Xuân |