vanban.org

Bản án 05/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Văn Thị Ánh M ly hôn với ông Châu Thanh S.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Châu Văn Hoàng P. Giao con chung tên Châu Văn Hoàng P cho bà M tiếp tục nuôi dưỡng (hiện do bà M nuôi dưỡng), ông S không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Văn Thị Ánh M - Châu Thanh S"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Văn Thị Ánh M ly hôn với ông Châu Thanh S.
  • Căn cứ chính? Điều 09 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 10-01-2025
V/V “Ly hôn giữa bà M và
ông S”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Trí.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đinh Ngọc Minh.

Ông Đinh Ngọc Dình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

Ngày 10 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 327/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2024 về việc “tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2024/QĐXXST-HN ngày 31 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Văn Thị Ánh M.

Địa chỉ: Ấp 1, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Ông Châu Thanh S.

Địa chỉ: Ấp T3, xã M, huyện T, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 25/11/2024 và tại phiên tòa bà Văn Thị Ánh M là nguyên đơn trình bày: Bà và ông Châu Thanh S chung sống với nhau từ năm 2023, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian khoảng 03 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do ông S không lo cho kinh tế gia đình, bà là người phải lo cho gia đình. Bà và ông S không chung sống với nhau từ tháng 5 năm 2024 cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể tiếp tục chung sống có hạnh phúc nên bà yêu cầu được ly hôn với ông S.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Châu Văn Hoàng P. Hiện con chung tên Châu Văn Hoàng P đang sống với bà, bà yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung, ông S không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông Châu Thanh S là bị đơn trình bày: Qua lời trình bày của bà M về điều kiện kết hôn là đúng và mâu thuẫn vợ chồng chỉ đúng một phần, nay bà M yêu cầu ly hôn thì ông không đồng ý, vì ông còn thương vợ, thương con.

Về nuôi con chung: Ông thống nhất lời trình bày của bà M. Trường hợp phải ly hôn thì ông yêu cầu nuôi con chung, không yêu cầu bà M cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà các đương sự không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ, cũng như không yêu cầu đưa thêm người tham gia tố tụng khác và không có yêu cầu gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

Về tố tụng: Bà M yêu cầu ly hôn với ông S được quy định tại các điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Châu Thành.

Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy hôn nhân giữa bà M và ông S có đăng ký kết hôn nên được xem là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 09 Luật hôn nhân và gia đình.

Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà M vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông S. Xét thấy, bà M yêu cầu ly hôn với ông S, ông S không đồng ý ly hôn với bà M, Tòa án tiến hành hòa giải 02 lần để các đương sự đoàn tụ với nhau, ông S có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng bà M vẫn cương quyết ly hôn với ông S vì tình nghĩa vợ chồng giữa bà M và ông S không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên theo quy định tại các điều 19, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà M đối với ông S.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Châu Văn Hoàng P. Hiện con chung đang sống với bà M, bà M và ông S đều có nguyện vọng để nuôi con chung, tuy nhiên xét cháu Hoàng P chưa đến 12 tháng tuổi, cháu Hoàng P đang sống với bà M từ đó cho đến nay cũng đã ổn định về mọi mặt, để giữ ổn định về mọi mặt cũng như điều kiện chăm sóc con chung của bà M. Xét cần chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của bà M là phù hợp điều kiện chăm sóc con chung nên cần chấp nhận theo quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về tài sản chung: Bà M, ông S xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Bà M, ông S xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các điều 28, 35, 39, 147, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các điều 09, 19, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Áp dụng Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Văn Thị Ánh M ly hôn với ông Châu Thanh S.

2. Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Châu Văn Hoàng P.

Giao con chung tên Châu Văn Hoàng P cho bà M tiếp tục nuôi dưỡng (hiện do bà M nuôi dưỡng), ông S không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Không ai được lợi dụng việc thăm nom con hoặc việc trực tiếp nuôi con để cản trở việc nuôi con hoặc việc thăm nom con, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của bên còn lại. Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

3. Về án phí: Bà M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng mà bà M đã nộp theo biên lai thu số 0010622 ngày 05 tháng 12 năm 2024 của Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Long An.

4. Về kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ