- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị L xin ly hôn anh D"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Hồng L đối với anh Đoàn Tiến D. Cho ly hôn giữa chị Trần Thị Hồng L và anh Đoàn Tiến D.
- Căn cứ chính? Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BẾN TRE Bản án số: 05/2025/HNGĐ-ST Ngày: 15/01/2025 Về việc tranh chấp: “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Long Hồ.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đào Thị Tuyết Mai;
2. Ông Đặng Hoàng Mích.
- Thư ký phiên Tòa: Ông Lê Minh Trọng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thảo Loan – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 489/2024/TLST–HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 356/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 269/2024/QĐST- HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Hồng L, sinh năm 1989 (Có mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.
- Bị đơn: Anh Đoàn Tiến D, sinh năm 1987 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn xin ly hôn đề ngày 10/9/2024, bản tự khai ngày 28/11/2024 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị Hồng L trình bày như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh D tự nguyện tiến tới hôn nhân trên tinh thần tự nguyện, cưới nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B vào năm 2007. Thời gian đầu sống chung có hạnh phúc nhưng đến tháng 9/2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, dẫn đến thường xuyên cự cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung, mỗi người một cuộc sống riêng, không ai quan tâm ai. Nay, thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên chị yêu cầu Tòa án cho ly hôn với anh D.
- Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng anh chị có 02 con chung tên là Đoàn Tấn P, sinh ngày 15/10/2006, Đoàn Tấn B, sinh ngày 21/8/2012. Khi ly hôn chị L đồng ý để anh D nuôi 02 con chung và không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận.
- Về nợ chung: Không có.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Bình Đại đã tống đạt hợp lệ cho anh Đoàn Tiến D các văn bản tố tụng nhưng anh D vắng mặt không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như phiên tòa xét xử vụ án mặc dù anh vẫn còn sinh sống tại địa phương nên Tòa án không thu thập được lời khai của anh Đoàn Tiến D.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Đối với Thẩm phán có chấp hành tốt theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, thực hiện đúng các nguyên tắc do pháp luật quy định. Đối với những người tham gia tố tụng thì các đương sự chấp hành tốt.
Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 119 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Hồng L đối với anh Đoàn Tiến D.
- Về con chung: Giao con chung tên Đoàn Tấn P, sinh ngày 15/10/2006, Đoàn Tấn B, sinh ngày 21/8/2012 cho anh Đoàn Tiến D được nuôi dưỡng. Ghi nhận chị Trần Thị Hồng L không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Chị Trần Thị Hồng L khai tự thỏa thuận, nên không xét đến.
- Về nợ chung: Chị Trần Thị Hồng L khai khai không có, nên không xét đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Trần Thị Hồng L khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với anh Đoàn Tiến D. Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này được xác định là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 14 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh Đoàn Tiến D có đăng ký thường trú và hiện đang sinh sống tại ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre. Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Bình Đại.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Đoàn Tiến D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để xét xử nhưng anh vẫn vắng mặt không có lý do. Chị Trần Thị Hồng L vắng mặt và có Đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt đề ngày 28/11/2024. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng là phù hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh D cưới nhau vào năm 2006 trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre theo Giấy chứng nhận kết hôn số 77 ngày 28 tháng 8 năm 2007 theo đúng quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh D được công nhận hợp pháp.
Nay, chị L yêu cầu ly hôn anh D vắng mặt nên không có lời khai. Hội đồng xét xử xét thấy: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của chị L trong quá trình giải quyết vụ án, đều xác định được cuộc sống vợ chồng của anh chị đã phát sinh mâu thuẫn từ tháng 9/2021, nguyên nhân do vợ chồng không cùng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, mỗi người đã có một cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai.
Toà án đã tiến hành mời chị L và anh D để hoà giải, nhằm cho các bên có cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh D vẫn vắng mặt không lý do, điều đó cho thấy anh D đã không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này.
Vậy, có cơ sở để Hội đồng xét xử xác định giữa chị L và anh D đã không còn quan tâm, chăm sóc đến cuộc sống của nhau, cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình. Điều đó cũng chứng tỏ hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị L là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2015 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Trong quá trình sống chung giữa chị L và anh D có 02 chung tên là Đoàn Tấn P, sinh ngày 15/10/2006, Đoàn Tấn B, sinh ngày 21/8/2012. Khi ly hôn, chị L đồng ý để anh D được tiếp tục nuôi 02 con chung và không cấp dưỡng nuôi con.
Hội đồng xét xử xét thấy: Từ khi ly thân đến nay, anh D nuôi con chung vẫn phát triển bình thường, các cháu được học tập đầy đủ. Do đó, nhằm để ổn định về tinh thần, quyền lợi về mọi mặt của con chung nên để anh D được tiếp tục nuôi con chung là phù hợp điều kiện, hoàn cảnh của các cháu và phù hợp quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L không cấp dưỡng nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung: Chị Trần Thị H khai tự thỏa thuận nên không xét đến.
Về nợ chung: Chị Trần Thị H khai không có nên không xét đến.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chị Trần Thị Hồng L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 14 Điều 3, các Điều 51, 56, 57, 59, 81, 82, 83, 84, 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2015;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Hồng L đối với anh Đoàn Tiến D. Cho ly hôn giữa chị Trần Thị Hồng L và anh Đoàn Tiến D.
Quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị Hồng L và anh Đoàn Tiến D theo Giấy chứng nhận kết hôn số 77 ngày 28 tháng 8 năm 2007 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre chấm dứt kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Về nuôi con chung:
Giao 02 con chung Đoàn Tấn P, sinh ngày 15/10/2006, Đoàn Tấn B, sinh ngày 21/8/2012 cho anh Đoàn Tiến D trực tiếp nuôi dưỡng.
Ghi nhận việc chị Trần Thị Hồng L không cấp dưỡng nuôi con.
Chị Trần Thị Hồng L không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Anh Đoàn Tiến D trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở chị Trần Thị Hồng L trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84, Điều 119 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, đồng thời theo yêu cầu của chị L, anh D, Tòa án có thể quyết định thay đổi người nuôi con và thay đổi yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Chị Trần Thị Hồng L khai tự thỏa thuận nên không xét đến.
4. Về nợ chung: Chị Trần Thị Hồng L khai không có nên không xét đến.
5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:
Chị Trần Thị Hồng L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0004009 ngày 08 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Vậy, chị Trần Thị Hồng L đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
6. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Hồng L, anh Đoàn Tiến D vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre (Phòng KTNV&THA); - VKSND huyện Bình Đại; - Chi cục THADS huyện Bình Đại; - UBND xã Thừa Đức; - Các đương sự; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Long Hồ |